CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRONG CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC 1. Một số khái niệm liên quan đến chất lượng đội ngũ giảng viên trong cơ sở giáo dục đại học 1. Khái niệm về chất lượng, chất lượng nguồn nhân lực 1. Khái niệm chất lượng Theo Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN ISO 9000:2015, Bộ Khoa học và Công nghệ, 2015): “Chất lượng sản phẩm và dịch vụ của tổ chức được xác định bằng khả năng thỏa mãn khách hàng và ảnh hưởng mong muốn và không mong muốn tới các bên quan tâm liên quan”.
Theo Hiệp hội chất lượng Mỹ (ASQ – American Society for Quality) nhận định: “Chất lượng được định nghĩa tùy theo từng đối tượng hoặc lĩnh vực. Trong lĩnh vực kỹ thuật, chất lượng có nghĩa (1) đặc điểm của sản phẩm hay dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu nào đó, (2) sản phẩm hay dịch vụ không có khuyết điểm. Khái niệm chất lượng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực. Theo định nghĩa của Liên Hợp quốc thì “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước”.
Theo Ngân hàng thế giới cho rằng: nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… của mỗi cá nhân. Như vậy, ở đây nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác: vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên. Theo Tổ chức Lao động quốc tế, nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động. 10 Nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển.
Do đó, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường. Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động. Theo Giáo trình Quản lý nguồn nhân lực của Nguyễn Tiệp (2007): “Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực, là tố chất, bản chất bên trong của nguồn nhân lực, nó luôn có sự vận động và phản ánh trình độ phát triển kinh tế - xã hội cũng như mức sống, dân trí của dân cư”. “Chất lượng nguồn nhân lực được đo bằng 2 tiêu chí là năng lực hoạt động của nguồn nhân lực và phẩm chất đạo đức nhóm đối tượng đó.
Năng lực hoạt động có được thông qua đào tạo, qua huấn luyện, qua thời gian làm việc được đánh giá bằng học hàm, học vị, cấp bậc công việc và kỹ năng giải quyết công việc. Phẩm chất đạo đức là khả năng giám nghĩ, giám làm, giám chịu trách nhiệm và khó có tiêu chí nào làm thước đo để đánh giá phẩm chất đạo đức của viên chức” (Giáo trình Nguồn nhân lực, Phùng Rân, 2006). “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực chính là sự tăng cường sức mạnh và kỹ năng hoạt động sáng tạo của năng lực thể chất và năng lực tinh thần của lực lượng lao động lên đến một trình độ nhất định để lực lượng này có thể hoàn thành được nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong một giai đoạn phát triển của một quốc gia, một tổ chức”. Thông qua chất lượng nguồn nhân lực nói chung thể hiện rõ trình độ phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia, chất lượng cuộc sống của dân cư hay mức độ văn minh của một xã hội” (Giáo trình Quản lý tổ chức và chính sách y tế, Nguyễn Duy Luật, 2006).
Khái niệm về giảng viên, chất lượng đội ngũ giảng viên 1. Khái niệm giảng viên Giảng viên là công chức chuyên môn đảm nhiệm việc giảng dạy và đào tạo ở bậc đại học, cao đẳng thuộc một chuyên ngành đào tạo của trường đại học hoặc cao đẳng. Theo Luật Giáo dục đại học 2012 (được sửa đổi bởi Khoản 29 Điều 1 Luật Giáo dục đại học sửa đổi 2018). Chất lượng của giảng viên bao gồm trình độ bằng cấp chuyên môn, thành thạo về môn học, kinh nghiệm, kỹ năng giảng dạy và đạo đức nghề nghiệp.
Chất lượng đội ngũ giảng viên Chất lượng đội ngũ giảng viên là khái niệm chỉ mức độ một tập hợp các đặc tính vốn có, thể hiện bản chất, đặc trưng cơ bản của nhiều người cùng chức năng, nhiệm vụ làm công tác giảng dạy, nghiên cứu hay còn gọi là các thầy giáo, cô giáo với tư cách là chủ thể của hoạt động giảng dạy trong các cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng hoặc tương đương, đáp ứng các yêu đặt ra của ngành giáo dục trong từng thời kỳ khác nhau. Chất lượng giảng viên ngành Y tế Có kinh nghiệm chuyên môn tối thiểu 24 tháng liên tục đến thời điểm giảng dạy phù hợp với chuyên ngành giảng dạy; trình độ chuyên môn của người giảng dạy không được thấp hơn trình độ của học viên tham gia. Giảng viên đào tạo thực hành lâm sàng phải có chứng chỉ hành nghề và phạm vi hoạt động chuyên môn phù hợp với chương trình, đối tượng đào tạo liên tục. Giảng viên đào tạo liên tục phải được đào tạo về phương pháp dạy - học y học theo hướng dẫn của Bộ Y tế.
Giảng viên đào tạo thực hành lâm sàng phải được bồi dưỡng về phương pháp dạy - học lâm sàng theo quy định tại Thông tư số 11/2019/TT-BYT ngày 17/6/2019. Những yếu tố cấu thành chất lượng nguồn nhân lực 1. Sức khỏe của nguồn nhân lực “Sức khỏe là một trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội chứ không phải chỉ là không có bệnh hay thương tật” (Theo Tổ chức Y tế thế giới, 2000). Sức khỏe là sự phát triển hài hòa của con người về sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần (Giáo trình quản trị nhân lực, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, 2010).
Sức khỏe về thể chất Sức khỏe thể chất là sự cường tráng, khả năng mang vác, lao động tay chân. Sự thoải mái về thể chất là sức lực của cơ thể, sự nhanh nhẹn, dẻo dai, khả năng có thể chống lại các yếu tố gây bệnh, kèm theo đó là khả năng chịu đựng được các yếu tố, điều kiện khắc nghiệt của môi trường đem lại ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Tình trạng sức khỏe thể chất được phản ánh bằng một hệ thống các chỉ tiêu cơ bản về sức khỏe như: chiều cao, cân nặng, tuổi thọ, các chỉ tiêu về tình hình bệnh tật, các chỉ tiêu về cơ sở vật chất và các điều kiện về bảo vệ và chăm sóc sức khỏe theo Vũ Bá Thể (2005) và Bùi Văn Nhơn (2006). Sức khỏe về tinh thần Sức khỏe tinh thần là sự dẻo dai của hoạt động thần kinh, khả năng vận động của trí tuệ, biến tư duy thành hành động.
Vì với các nền văn hóa khác nhau sẽ có những đánh giá chủ quan và giả thuyết khoa học khác nhau. Điều này ảnh hưởng đến khái niệm về sức khỏe tinh thần. Ngoài ra, ở trạng thái thoải mái, không có rối loạn về tinh thần chưa chắc đã được coi là sức khỏe tinh thần. Còn có một cách để nhận xét sức khỏe tinh thần bằng cách xem người đó thể hiện chức năng của mình thành công tới mức độ nào.
Nếu cảm thấy đủ khả năng tự tin, có thể đối mặt với những tình trạng căng thẳng bình thường mà vẫn có thể giữ được mối quan hệ thoải mái, có cuộc sống độc lập, dễ dàng hồi phục lại trạng thái của bản thân sau những tình huống khó khăn đều được coi là dấu hiệu của sức khỏe tinh thần tốt. 13 Để có được “sức khỏe tinh thần”, cá nhân cần xây dựng các thông số liên quan đến hoạt động thần kinh, niềm tin và ý chí, khả năng vận động của trí lực trong những điều kiện khác nhau, bao gồm: + Trải nghiệm cảm xúc tích cực: là nhìn thấy những mặt hạn chế để khắc phục chứ không phải che đậy tức là nhìn nhận tích cực về bản thân và nghề nghiệp của bản thân được thể hiện qua những cung bậc cảm xúc trong cùng một khoảng thời gian. Biết gắn kết một cách lành mạnh trong các mối quan hệ công việc, gia đình và xã hội một các tự chủ, tôn trọng và không lệ thuộc vào người khác. Biết tận hưởng hương vị cuộc sống, làm cho bản thân thấy thoải mái, dễ chịu và trân quý những gì bản thân đang có.
+ Khả năng tập trung: là điều khiển được các hành động về thể chất và tâm trí hướng vào quá trình thực hiện công việc cũng như các hoạt động khác. Có khả năng tự khắc phục, loại bỏ các yếu tố “gây nhiễu” khi làm việc ảnh hưởng tới hiệu suất công việc hoặc làm mất tập trung. + Khả năng thích ứng: là tự điều chỉnh suy nghĩ, hành vi để sao cho phù hợp với hoàn cảnh công việc và cuộc sống. Biết loại trừ những căng thẳng mà bản thân phải đối diện trong cuộc sống hàng ngày, ngoại trừ những dạng stress đặc biệt.
Làm quen với môi trường công việc một cách nhanh nhất và giải quyết công việc theo hướng tích cực, linh hoạt và hài hòa. + Khả năng phục hồi: là biết giải tỏa cảm xúc tiêu cực bằng phương pháp lành mạnh mà không phải mượn chất kích thích như rượu bia, thuốc lá… để “cân bằng” cảm xúc. Khôi phục lòng tin, hàn gắn mất mát và hy vọng vào một tương lai tốt đẹp. + Cảm nhận ý nghĩa cuộc sống: là thấy mình như một phần của tổ chức, của cộng đồng.
Luôn mong muốn hoàn thiện nhân cách và phát triển khả năng của bản thân và nhận ra những giá trị của thành quả đã làm được cho tổ chức. Kiến thức chung Kiến thức chung trước hết phải là các sự kiện, không bao giờ là ý kiến, quan điểm hay lập luận, cho dù chúng phát sinh hay dựa trên kiến thức chung đó. Kiến thức chung phải có tính phổ thông, nghĩa là một người ở trình độ trung bình cũng có thể biết hoặc tin vào các thông tin đó mà không cần kiểm tra.