Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM CHO GIÁO VIÊN MẦM NON 1. Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề Liên quan đến vấn đề đào tạo, bồi dưỡng giáo viên nói chung, bồi dưỡng NVSP cho GVMN nói riêng đã có những công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước. Các nghiên cứu nước ngoài N. Ia-cốp-lep trong cuốn: Phương pháp và kỹ thuật lên lớp trong trường phổ thông [23] đã nêu rất cụ thể việc giáo viên phải làm gì? Những yêu cầu đối với giáo viên ra sao? Tác giả nêu ra những thành công cũng như thất bại trong nghề dạy học nhằm làm sáng tỏ vấn đề nâng cao chất lượng giảng dạy trong nhà trường.
Ki-xê-cốp với công trình: Hình thành các kỹ năng, kỹ xảo sư phạm trong điều kiện của nền giáo dục đại học [24], đưa ra hai giai đoạn trong thực tập sư phạm: thực tập tập luyện và thực tập tập sự là con đường chủ yếu để hình thành các kỹ năng, kỹ xảo cần thiết cho người giáo sinh. Trong cuốn: Tự đào tạo để dạy học [32], P. Pelpel đã gợi ý cho chúng ta một cách tiếp cận khoa học có tính phương pháp luận về nghề dạy học, cách xác định các mục tiêu sư phạm, cách lựa chọn các phương pháp và kỹ thuật dạy học thích hợp, cách tự đánh giá cùng với những dự báo về xu hướng phát triển các phương pháp và kỹ thuật dạy học ở nhà trường tương lai. Cuốn sách là những công cụ lý luận cần thiết cho mỗi nhà giáo khi tiến hành quá trình tự đào tạo để dạy học.
Trong cuốn: Một số vấn đề đào tạo giáo viên [11], M. Develay đã đưa 7 ra vấn đề hết sức cơ bản cho việc dạy học “Nghề dạy học luôn thuộc về lĩnh vực nghệ thuật và khoa học”. Nimier với cuốn: Giáo viên rèn luyện tâm lý [31], cho rằng không phải việc đào tạo tâm lý chỉ làm ở các trường sư phạm mà đủ. Cả cuộc sống nghề nghiệp của họ sau này, người giáo viên vẫn luôn tự rèn luyện mình.
Có tài liệu khẳng định, những yêu cầu về chuyên môn của người thầy giáo tất nhiên không phải chỉ có những kiến thức phong phú mà còn có những kỹ năng cần thiết để tổ chức và thực hành công tác giáo dục, vấn đề không phải chỉ ở chỗ tiếp thu kiến thức về tâm lý học và giáo dục học mà việc biết vận dụng vào thực tế. Muốn làm công tác giáo dục tốt cần phải có kỹ năng giáo dục và phải có thời gian. Như vậy, việc bồi dưỡng giáo viên thường xuyên là rất cần thiết. Các nhà nghiên cứu của Liên Xô trước đây cũng chỉ ra vai trò quan trọng của QLGD, họ khẳng định một chân lý rằng kết quả hoạt động của nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào việc tổ chức đúng đắn và hợp lý các công việc của người giáo viên.
Xu-khôm-lin-xki cùng với nhiều tác giả đã đưa ra một số biện pháp quản lý của hiệu trưởng (HT) tại các nhà trường. Phải có sự phân công hợp lý công việc trong Ban Giám hiệu; Thường xuyên quan tâm xây dựng kế hoạch và bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho ĐNGV [43]. Từ năm 1998, giáo dục Thái Lan đã quan tâm tới việc bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho giáo viên ở các trung tâm học tập cộng đồng nhằm thực hiện giáo dục cơ bản, huấn luyện kỹ năng nghề nghiệp. Ở Pakistan có chương trình bổ túc nâng cao về chuyên môn, NVSP do nhà nước quy định, trong thời gian là 3 tháng gồm các nội dung phương pháp nghiên cứu, đánh giá học sinh, cơ sở tâm lý - giáo dục, nghiệp vụ dạy học đối với giáo viên mới vào nghề chưa quá 3 năm.
Đất nước Triều Tiên luôn coi trọng giáo dục, vì vậy đã ban hành những chính sách thiết thực để không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho ĐNGV. Tất cả giáo viên 8 đều phải tham gia học tập đầy đủ các nội dung chương trình về nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ theo quy định. Tại nước Anh, từ cuối thập kỷ 80 việc đào tạo theo chuẩn trong lĩnh vực dạy học ngày càng được chính phủ chấp nhận và khuyến khích. Trong lĩnh vực dạy học người ta thận trọng trước sự đòi hỏi quá chi tiết của phương pháp dạy học.
Điều đó được Hội đồng bằng cấp quốc gia thừa nhận trong bản đánh giá các bước khởi đầu của đào tạo theo chuẩn tại các trường học và các cơ sở đào tạo học viên. Các nghiên cứu ở trong nước Ở Việt Nam hiện nay vấn đề bồi dưỡng nói chung, NVSP nói riêng cho giáo viên đang là yêu cầu cấp bách đối với nhiều nhà khoa học, nhà giáo dục, giảng viên và cán bộ QLGD quan tâm nghiên cứu ở các góc độ, nội dung, hình thức khác nhau nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp cho giáo viên và hiệu quả của công tác đào tạo bồi dưỡng giáo viên. Những năm qua, các nhà QLGD, HT, Phó HT các nhà trường đã có hoàn thành các luận văn, luận án liên quan đến bồi dưỡng giáo viên. Tiêu biểu như: Nguyễn Thị Bích Thủy [36]: Các biện pháp quản lý chuyên môn của Hiệu trưởng các trường tiểu học ở tỉnh Quảng Nam, Nguyễn Văn Tiến [37]: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý chuyên môn của Hiệu trưởng các trường mầm non ngoại thành Hải Phòng, Phạm Khánh Tường [41]: Các biện pháp quản lý chuyên môn của Hiệu trưởng đối với giáo viên mới vào nghề của một số trường trung học phổ thông tại Hải Phòng,.
Liên quan đến bồi dưỡng GVMN có những công trình: Sổ tay người hiệu trưởng mẫu giáo [34] của NXB Giáo dục phát hành năm 1980; Chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ chủ nhiệm nhà trẻ [42] và cuốn: Tài liệu bồi dưỡng hiệu trưởng [35]. Những năm 90 có các tài liệu liên quan đến GDMN, tiêu biểu như: Quản lý giáo dục mầm non [10] của tác giả Phạm Thị Châu,… 9 Đề tài khoa học công nghệ: Nghiên cứu khoa học cho việc nâng cao chất lượng thực hiện chương trình chăm sóc - giáo dục trẻ 3-6 tuổi trong trường mầm non [22] của Lê Thị Thu Hương, đề cập đến quan điểm, nguyên tắc đổi mới, nâng cao chất lượng chương trình CS&GD trẻ, một số định hướng đổi mới, xây dựng mô hình nâng cao chất lượng chương trình CS&GD trẻ mẫu giáo trong các trường mầm non vùng miền núi. Các luận văn thạc sĩ QLGD: Quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên mầm non huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên [39] của Nguyễn Thị Tuyết, Thực trạng công tác quản lý việc bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên ở một số trường mầm non Thành phố Hồ Chí Minh [21] của Nguyễn Hữu Lê Huyên… đã tiếp cận nghiên cứu về công tác bồi dưỡng chuyên môn, NVSP cho GVMN ở những địa bàn khác nhau của nước ta; song chưa có công trình nghiên cứu vấn đề bồi dưỡng NVSP cho GVMN trên địa bàn thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. Kế thừa những công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước, chúng tôi vận dụng vào nghiên cứu đề tài quản lý hoạt động bồi dưỡng NVSP cho GVMN trên địa bàn một thành phố, đó là thành phố Quy Nhơn, nhằm góp phần nâng cao chất lượng ĐNGV các trường mầm non, đáp ứng yêu cầu đổi mới ngành học, sự tin yêu của nhân dân.
Các khái niệm cơ bản liên quan đề tài 1. Quản lý, quản lý giáo dục 1, Quản lý theo nghĩa hẹp là nói đến một hoạt động xã hội của con người, nó thường gắn với một lĩnh vực cụ thể nào đó: quản lý kinh tế, quản lý nhân sự, quản lý tài chính, quản lý môi trường. hoặc gắn với một hoạt động cụ thể của con người: quản lý cá nhân, quản lý xung đột, quản lý cuộc họp. Có nhiều cách hiểu khác nhau về quản lý.
Heard thì cho rằng: “Quản lý là một quá trình cùng làm việc giữa nhà quản lý với 10 người bị quản lý, nhằm thông qua hoạt động của cá nhân, của nhóm, huy động các nguồn lực khác để đạt mục tiêu của tổ chức” [16]. Theo Hà Thế Ngữ: “Quản lý là quá trình dựa vào các quy luật khách quan vốn có của hệ thống để tác động đến hệ thống nhằm chuyển hệ thống đó sang một trạng thái mới” [30]. Còn Trần Kiểm thì quan niệm: “Quản lý là tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý trong tổ chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt mục đích nhất định” [26]. Từ các định nghĩa trên, chúng tôi hiểu: Quản lý chính là sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý của tổ chức, đồng thời phát huy được các nguồn lực để đạt được mục đích của tổ chức.
Quan lý có nhiều chức năng khác nhau như: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra - đánh giá. Bốn chức năng này có quan hê ̣̣ chặt chẽ với nhau, được thực hiện liên tiếp, phối hợp và bổ sung cho nhau tạo thành chu trình quản lý. Trong chu trình này, yếu tố thông tin luôn có mặt ở tất cả các giai đoạn, nó vừa là điều kiện vừa là phương tiện không thể thiếu khi thực hiện các chức năng quản lý. 2, Quản lý giáo dục có nội hàm rộng hay hẹp phụ thuộc vào cách hiểu từ “giáo dục” trong đó như thế nào.
Nếu hiểu giáo dục là các hoạt động tác động đến thế hệ trẻ diễn ra trong các nhà trường nói riêng và xã hội nói chung thì QLGD là quản lý mọi hoạt động giáo dục trong xã hội, và lúc đó QLGD được hiểu theo nghĩa rộng nhất. Còn nếu chỉ nói đến các hoạt động giáo dục có tổ chức, có hệ thống trong ngành giáo dục, diễn ra trong các cơ sở GD&ĐT là nói đến quản lý nhà trường và quản lý một hệ thống các cơ sở GD&ĐT ở một địa phận hành chính, đó là quản lý một hệ thống giáo dục. Từ trước đến nay có nhiều quan niệm khác nhau về QLGD. Kônđacốp cho rằng: “QLGD là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt 11 xích của hệ thống (từ Bộ đến nhà trường) nhằm mục đích đảm bảo hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của xã hội cũng như các quy luật của quá trình giáo dục, của sự phát triển thể lực và tâm lý trẻ em” [27].