Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động bồi dƣỡng năng lực giao tiếp sƣ phạm cho giáo viên ở trƣờng trung học phổ thông. Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động bồi dƣỡng năng lực giao tiếp sƣ phạm cho giáo viên ở các trƣờng trung học phổ thông huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dƣơng. Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động bồi dƣỡng năng lực giao tiếp sƣ phạm cho giáo viên ở các trƣờng trung học phổ thông huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dƣơng. 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƢỠNG NĂNG LỰC GIAO TIẾP SƢ PHẠM CHO GIÁO VIÊN Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.
Tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Hiện nay ở các nƣớc, vấn đề bồi dƣỡng giáo viên nói chung, trong đó có bồi dƣỡng năng lực giao tiếp sƣ phạm cho giáo viên đã và đang đƣợc các quốc gia quan tâm nghiên cứu. Chẳng hạn: Ở Pháp, Chính phủ tiến hành tổ chức sát hạch trình độ giáo viên, qua đó cấp thẻ giáo viên cho những ngƣời đạt chuẩn [25]. Ở Thái Lan (ngay từ năm 1988) việc bồi dƣỡng giáo viên đƣợc tiến hành ở các trung tâm học tập cộng đồng; Úc, New Zeland, Canada,… đã thành lập các cơ sở chuyên bồi dƣỡng giáo viên nhằm thực hiện giáo dục cơ bản, huấn luyện kĩ năng nghề nghiệp và tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên học tập nhằm không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ [8, tr.
Ở Singapore, Chính phủ quan tâm việc bồi dƣỡng giáo viên bằng cách ấn định kinh phí công tác bồi dƣỡng giáo viên hàng năm và định mức kinh phí cụ thể cho từng nội dung bồi dƣỡng. Căn cứ vào trình độ hiện tại của từng giáo viên (theo quy định của văn bằng, chứng chỉ), các nhà trƣờng rà soát những nội dung còn thiếu và cấp kinh phí trực tiếp cho giáo viên để bồi dƣỡng. Giáo viên sau đó hoàn thành chƣơng trình bồi dƣỡng theo nội dung và thời gian đã đăng ký [25]. Theo báo cáo của Viện giáo dục quốc gia Singapore, trong mô hình ngƣời giáo viên thế kỷ XXI, kĩ năng giao tiếp đƣợc xem là một trong những kĩ năng cơ bản mà ngƣời giáo viên cần phải có.
Chính những kĩ năng này đã giúp giáo viên có đƣợc một trong các năng lực cốt lõi, đó là biết mình biết ngƣời: biết điều chỉnh bản thân, hiểu và tôn trọng ngƣời khác, linh hoạt và có khả năng thích ứng… [14]. Trong công trình nghiên cứu “Hoạt động phát triển bồi dưỡng giáo viên trên thế giới” (2019), tác giả Ngô Vũ Thu Hằng nhận định, với Liên minh Châu Âu, phát 6 triển chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên đƣợc xem là vấn đề trọng tâm để nâng cao chất lƣợng giáo dục của các nhà trƣờng. Các nƣớc này cho rằng, bồi dƣỡng giáo viên một cách liên tục để rèn tay nghề cho giáo viên và các nhân viên phục vụ hoạt động giáo dục, dạy học trong nhà trƣờng là việc làm hết sức cần thiết. Bởi lẽ, GV không chỉ là ngƣời giỏi về chuyên môn, tinh thông về nghiệp vụ mà còn phải là ngƣời có khả năng tự học suốt đời.
Vì vậy, giáo viên phải tự xác định đƣợc các điểm mạnh, điểm yếu và các nhu cầu bồi dƣỡng của bản thân [14]. Nhƣ vậy, các nhà nghiên cứu khoa học giáo dục và quản lý giáo dục trên thế giới đã và đang quan tâm nghiên cứu vấn đề bồi dƣỡng giáo viên nói chung. Trong đó, vấn đề bồi dƣỡng năng lực giao tiếp, giao tiếp sƣ phạm đƣợc xem nhƣ một nội dung cụ thể. Các nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng, việc bồi dƣỡng năng lực cho giáo viên là một hoạt động thƣờng xuyên và cần đƣợc đánh giá theo những yêu cầu và chuẩn mực nhất định, có cơ sở pháp lý rõ ràng.
Các nghiên cứu ở trong nước - Về vấn đề bồi dƣỡng giáo viên: Có nhiều công trình nghiên cứu hoặc luận văn thạc sĩ đề cập đến vấn đề bồi dƣỡng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, trong đó có những nghiên cứu về bồi dƣỡng đội ngũ giáo viên ở các trƣờng phổ thông, trƣờng trung cấp và dạy nghề, mầm non, đại học và cao đẳng. Chẳng hạn: Về hình thức bồi dƣỡng, tác giả Trần Bá Hoành cho rằng: cần phải đa dạng, phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của giáo viên và nhà trƣờng. Có nhiều hình thức bồi dƣỡng nhƣ: bồi dƣỡng tập trung, bồi dƣỡng tại chỗ, bồi dƣỡng từ xa, bồi dƣỡng trực tuyến và tự bồi dƣỡng. Để tinh thông nghề nghiệp ngƣời giáo viên cần phải đƣợc bổ sung kiến thức, trong đó tự bồi dƣỡng đóng vai trò hết sức quan trọng quyết định sự thành đạt của mỗi giáo viên.
Quá trình đào tạo ở trƣờng sƣ phạm chỉ là đào tạo ban đầu, đặt cơ sở cho quá trình đào tạo tiếp tục [17]. Về phƣơng pháp bồi dƣỡng giáo viên, có một số tác giả cho rằng nên là phƣơng pháp thuyết trình gắn với hình thức bồi dƣỡng tập trung; một số khác lại cho rằng cần phải đƣợc đổi mới theo hƣớng phát huy năng lực ngƣời học và đƣợc vận dụng sáng tạo theo các hình thức bồi dƣỡng khác nhau. Đổi mới phƣơng pháp bồi dƣỡng trong nhà trƣờng phải bắt đầu từ ngƣời giáo viên, điều này có nghĩa là phƣơng 7 pháp bồi dƣỡng cũng cần phải đƣợc đổi mới một cách tích cực và hiệu quả [13]. Ngoài ra, có thể kể đến một số luận văn thạc sĩ nghiên cứu về vấn đề bồi dƣỡng giáo viên.
Chẳng hạn, công trình nghiên cứu của Lƣu Hải Tiền (2012): “Quản lý hoạt động bồi dƣỡng đội ngũ giáo viên trƣờng THPT Ngô Quyền thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh theo chuẩn nghề nghiệp”; công trình nghiên cứu của tác giả Lê Thị Tích (2014): “Quản lý hoạt động bồi dƣỡng giáo viên trƣờng Mầm non thành phố Uông Bí tỉnh Quảng Ninh theo chuẩn nghề nghiệp”; công trình nghiên cứu của Mạch Quý Dƣơng (2011): “Biện pháp bồi dƣỡng năng lực chuyên môn cho đội ngũ chuyên viên trƣờng Đại học Công nghệ Thông tin về Truyền thông - Đại học Thái Nguyên”; công trình nghiên cứu của Bùi Khiếu Ngọc Lệ Hằng (2012): “Thực trạng kĩ năng giao tiếp sƣ phạm của giáo viên mầm non với trẻ ở thành phố Cà Mau ” trƣờng Đại học Sƣ phạm Thành phố Hồ Chí Minh… Những công trình nghiên cứu nêu trên đã đề cập đến vấn đề bồi dƣỡng giáo viên phát triển đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên, vấn đề chuẩn hóa đội ngũ giáo viên, từ đó khẳng định cần phải bồi dƣỡng toàn diện cho giáo viên, cụ thể bồi dƣỡng về chuyên môn, nghiệp vụ sƣ phạm, phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp và kĩ năng hành nghề … - Về giao tiếp sƣ phạm và vấn đề bồi dƣỡng năng lực giao tiếp sƣ phạm cho giáo viên: Trƣớc hết phải kể đến một số tài liệu, cuốn sách có liên quan đến lĩnh vực này. Chẳng hạn, tác giả Ngô Công Hoàn với cuốn sách “Giao tiếp sƣ phạm” (1987), “Một số vấn đề tâm lí học về giao tiếp sƣ phạm” (1995); tác giả Trƣơng Quang Học (2003) với tác phẩm “ Nâng cao khả năng giao tiếp cho học viên đào tạo cán bộ chính trị cấp quân đội”… Bên cạnh đó, có thể kể đến một số luận văn thạc sĩ, một số công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề giao tiếp sƣ phạm, kĩ năng giao tiếp sƣ phạm và bồi dƣỡng kĩ năng giao tiếp sƣ phạm cho giáo viên. Chẳng hạn, tác giả Bùi Thị Nguyên Hảo (2013), nghiên cứu đề tài “ Thực trạng kĩ năng giao tiếp sƣ phạm của giáo viên Mầm non với trẻ ở thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng”; tác giả Châu Thúy Kiều (2010) nghiên cứu đề tài “ Kĩ năng giao tiếp của sinh viên sƣ phạm, trƣờng Cao đẳng Sƣ phạm Cần Thơ”; tác giả Nguyễn Huy Toàn (2011) nghiên cứu đề tài “ Kĩ năng giao tiếp của học viên trƣờng Trung cấp Cảnh sát nhân dân II”; tác giả Mai Thị Ngọc Lan (2011) với 8 công trình nghiên cứu “ Một số giải pháp bồi dƣỡng kĩ năng giao tiếp sƣ phạm cho giáo viên tiểu học trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh”… Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nêu trên đã tập trung phân tích vai trò của giao tiếp nói chung, đặc biệt là giao tiếp sƣ phạm trong trƣờng học. Một số công trình bƣớc đầu nghiên cứu, tìm tòi các giải pháp bồi dƣỡng kĩ năng giao tiếp sƣ phạm cho giáo viên…Tuy nhiên, về phƣơng diện quản lý, vẫn còn thiếu những công trình nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện về bồi dƣỡng năng lực giao tiếp sƣ phạm và quản lý hoạt động bồi dƣỡng năng lực giao tiếp sƣ phạm cho giáo viên THPT.
Chúng tôi cho rằng đây chính là vấn đề cần tiếp tục đƣợc quan tâm nghiên cứu một cách đầy đủ hơn. Các khái niệm cơ bản của đề tài 1. Quản lý Quản lý là một dạng lao động xã hội mang tính đặc thù, gắn liền và phát triển cùng với lịch sử phát triển loài ngƣời. Từ khi có sự phân công lao động trong xã hội đã xuất hiện một dạng lao động đặc biệt đó là tổ chức, điều khiển các hoạt động lao động theo những yêu cầu nhất định.
Dạng lao động mang tính đặc thù đó chính là hoạt động quản lý. Có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý theo những cách tiếp cận khác nhau, nhƣ: - Quản lý là quá trình thực hiện các công việc: xây dựng kế hoạch hành động (bao gồm cả xác định mục tiêu cụ thể, chế định kế hoạch, quy định tiêu chuẩn đánh giá và thể chế hóa), sắp xếp tổ chức (bố trí tổ chức, phối hợp nhân sự, phân công công công việc, điều phối nguồn lực tài chính và kĩ thuật…), chỉ đạo điều hành, kiểm soát và đánh giá kết quả, sửa chữa sai sót (nếu có) để đảm bảo hoàn thành mục tiêu của tổ chức đã đề ra [12]. - Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hƣớng của chủ thể quản lý (ngƣời quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể quản lý (đối tƣợng quản lý) về các mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế, bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phƣơng pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trƣờng và điều kiện cho sự phát triển của đối tƣợng [26]. 9 - Quản lý là tác động có định hƣớng, có chủ đích của chủ thể quản lý (ngƣời quản lý) đến khách thể quản lý (ngƣời bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt đƣợc mục đích của tổ chức [18].