đặt vấn đề động lực lên trên hết, đổi mới giáo dục làm thế nào để GV có động lực muốn dạy, học sinh có động lực muốn học. Tiếp đó mới là vấn đề nguồn lực, rồi phải quản lý nguồn lực sao cho có hiệu quả”. “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã nêu “Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao 10 dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam” [10] Ngoài những tài liệu dưới dạng sách, báo còn có thể kể đến rất nhiều luận văn thạc sĩ của các học viên khóa trước như: Hà Minh Dũng, Giải pháp quản lý chỉ đạo nâng cao chất lượng học sinh yếu kém trường THPT Thái Hòa, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc, luận văn thạc sĩ QLGD năm 2011; Nguyễn Huy Hùng, Giải pháp quản lý chỉ đạo nâng cao chất lượng học sinh yếu kém trường THCS Ninh Điền, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh”, luận văn thạc sĩ năm 2011; Thân Trọng Thuận, Quản lý hoạt động bồi dưỡng học sinh yếu kém trường THPT Cao Bình, tỉnh Cao Bằng, luận văn thạc sĩ QLGD 2014; Trần Văn Thế, Biện pháp quản lý hoạt động phụ đạo học sinh học lực yếu kém các trường THPT huyện Krông Pa tỉnh Gia Lai, luận văn thạc sĩ QLGD 2015,… Các đề tài này đều tập trung nghiên cứu QL hoạt động bồi dưỡng (BD) học sinh yếu, kém trong nhà trường, đề cập đến một số vấn đề lý luận về phụ đạo, bồi dưỡng, quản lý công tác bồi dưỡng học sinh yếu, kém nhưng lại có cách tiếp cận khác nhau về vấn đề nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và địa bàn nghiên cứu. Qua quá trình học tập và nghiên cứu các tài liệu, các công trình nghiên cứu của các tác giả tôi thấy chưa thể bao quát hết được các đặc thù riêng của từng vùng miền, từng khu vực.
Gia Nghĩa là thị xã trẻ, tỷ lệ người dân tộc thiểu số sinh sống khá cao, trình độ dân trí không đồng đều. Đến nay chưa có một nghiên cứu nào về quản lý hoạt động bồi dưỡng học sinh yếu, kém ở trường THCS trong bối cảnh thực hiện công cuộc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục hiện nay. Vì vậy, trong khuôn khổ luận văn này sẽ đi sâu hơn về cơ sở lý luận của QL hoạt động bồi dưỡng học sinh học yếu, kém; tìm hiểu thực trạng quản lý bồi dưỡng học sinh yếu, kém các trường THCS trên địa bàn thị xã Gia Nghĩa, tỉnh 11 Đắk Nông và từ đó đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng học sinh yếu, kém nhằm đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông. Tóm lại, vấn đề biện pháp QL hoạt động bồi dưỡng học sinh học lực yếu, kém trong nhà trường phổ thông đã được rất nhiều tác giả trên thế giới cũng như ở Việt Nam nghiên cứu.
Nhiều luận văn thạc sĩ nghiên cứu tới đề tài với nhiều cách tiếp cận về vấn đề quản lý khác nhau, ở những địa phương khác nhau với phạm vi nghiên cứu rộng, hẹp khác nhau. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có đề tài đi sâu nghiên cứu về các biện quản lý hoạt động bồi dưỡng học sinh học yếu, kém ở các trường THCS trên địa bàn thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông. Các khái niệm cơ bản của đề tài 1. Quản lý Quản lý là một hiện tượng xã hội xuất hiện rất sớm.
Con người trong quá trình quản lý hoạt động của mình, để đạt được mục tiêu cá nhân phải dự kiến kế hoạch, sắp xếp trình tự tiến hành và tác động đến đối tượng bằng cách nào đó theo khả năng của mình. Trong quá trình lao động tập thể càng không thể thiếu được kế hoạch, sự phân công và điều hành chung, sự hợp tác và quản lý lao động…Như vậy, quản lý tất yếu nảy sinh và nó chính là một phạm trù tồn tại khách quan được ra đời từ bản thân, nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi quốc gia, mọi thời đại. Sự cần thiết của quản lý được C.Mác mô tả như sau “Tất cả mọi lao động trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều cũng cần đến sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động của toàn bộ cơ chế sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần có một nhạc trưởng” [5, tr.Mác đã chỉ ra bản chất của quản lý là một hoạt động lao động, để điều khiển lao động, một hoạt động tất yếu quan 12 trọng trong quá trình phát triển của xã hội loài người.
Theo Từ điển Giáo dục học“Quản lý là hoạt động hay tác động có định hướng, có chủ định của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [25, tr.326] Theo tác giả Đặng Quốc Bảo phân tích, “quản lý” là “quản” và “lý” tức là “giữ” và “chỉnh sửa”, hay “quản lý” là làm cho tổ chức của mình “ổn định và phát triển” [1] Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, hiện nay hoạt động quản lý thường được định nghĩa rõ hơn như sau: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” [6, tr.9] Theo tác giả Thái Văn Thành“Quản lý là sự tác động tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra” [21, tr.5] Xuất phát từ khái niệm quản lý nêu trên, chúng tôi nhận thấy: “Quản lý là sự tác động có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý thông qua các hoạt động kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra làm cho tổ chức vận hành ổn định và phát triển nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức”. Như vậy hoạt động QL được hiểu là tác động qua lại giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý. Điều này khác với cách hiểu hoạt động QL chỉ là tác động một chiều mà không có thông tin phản hồi, không có hoạt động tự quản lý. Cũng theo định nghĩa này, quản lý có 4 chức năng chính là kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra.
Quản lý một tổ chức là làm cho tổ chức đó ổn định, phát triển nhưng đích cuối cùng vẫn là đạt được mục tiêu. Như vậy, để quản lý tốt được tổ chức của mình, nhà quản lý phải xác định chính xác, tường minh mục tiêu của tổ chức mình. Nếu mục tiêu được xác định quá cao so với 13 khả năng thì không thực hiện được, ngược lại nếu mục tiêu được xác định quá thấp thì không cần nỗ lực, cố gắng vẫn đạt được mục tiêu và như vậy sẽ gây ra sự chán nản. Chính vì vậy, mục tiêu phải vừa sức, đảm bảo phải nỗ lực mới đạt được.
Khi đạt được mục tiêu, tất cả các thành viên trong tổ chức mới thấy được sự tự hào, cảm thấy tự tin và gắn bó với tổ chức mình. Khi đó, tổ chức sẽ ổn định phát triển. Điều cần chú ý đối với người QL là 4 chức năng của quản lý có quan hệ chặt chẽ với nhau, thực hiện liên tiếp tạo thành chu trình quản lý. Trong quá trình thực hiện các chức năng quản lý, yếu tố thông tin có vai trò rất quan trọng.
Nhà quản lý càng có thông tin chính xác, toàn diện, kịp thời để đề ra những quyết định QL phù hợp, nhà quản lý còn phải biết phân tích, xử lý tốt những thông tin nhận được để điều chỉnh mục tiêu, đồng thời tìm ra nguyên nhân thành công, thất bại giúp chủ thể quản lý rút ra được bài học kinh nghiệm để thực hiện cho quá trình quản lý tiếp theo mối quan hệ giữa các chức năng quản lý và hệ thống thông tin được biểu diễn bằng sơ đồ sau: Kế hoạch Kiểm tra Thông tin Tổ chức Chỉ đạo Sơ đồ 1. Mối quan hệ giữa các chức năng quản lý Các chức năng QL tạo thành một chu trình quản lý, chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau, ảnh hưởng qua lại lẫn nhau. Khi thực hiện hoạt động QL trong quá trình quản lý thì yếu tố thông tin luôn có mặt trong tất cả các 14 giai đoạn với vai trò vừa là điều kiện, vừa là phương tiện để tạo điều kiện cho chủ thể quản lý thực hiện các chức năng quản lý và đưa ra được các quyết định quản lý. Bồi dưỡng Theo Đại từ điển Tiếng Việt: “Bồi dưỡng là làm cho tốt hơn, giỏi hơn”.
Theo nghĩa rộng, bồi dưỡng là quá trình đào tạo nhằm hình thành năng lực và phẩm chất nhân cách theo mục tiêu xác định. Như vậy, bồi dưỡng bao hàm cả quá trình giáo dục và đào tạo nhằm trang bị tri thức, năng lực, chuyên môn nghiệp vụ và những phẩm chất nhân cách. Quá trình bồi dưỡng, được hiểu theo nghĩa rộng diễn ra cả trong nhà trường và trong đời sống xã hội, có nhiệm vụ không những chỉ trang bị những kiến thức, năng lực chuyên môn cho người học trong nhà trường mà còn tiếp tục bổ sung, phát triển, cập nhật nhằm hoàn thiện phẩm chất và năng lực cho họ sau khi đã kết thúc quá trình học tập. Theo nghĩa hẹp, bồi dưỡng là quá trình bổ sung, phát triển, hoàn thiện nâng cao kiến thức, năng lực chuyên môn và những phẩm chất, nhân cách.
Hoạt động này diễn ra sau quá trình người học kết thúc chương trình giáo dục và đào tạo ở nhà trường. Như vậy, theo nghĩa hẹp, bồi dưỡng là một bộ phận của quá trình giáo dục và đào tạo, là khâu tiếp nối giáo dục và đào tạo con người khi họ đã có những tri thức, năng lực chuyên môn và phẩm chất nhân cách nhất định được hình thành trong quá trình đào tạo ở nhà trường. Như vậy, có thể hiểu bồi dưỡng là quá trình bổ sung sự thiếu hụt về tri thức, năng lực chuyên môn, cập nhật những cái mới để hoàn thiện hệ thống tri thức, năng lực chuyên môn nghiệp vụ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động. Bồi dưỡng là một khâu tiếp nối quá trình đào tạo.
Quản lý giáo dục Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, vĩnh hằng, là quá trình truyền thụ và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội của loài người.