Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN THEO CHUẨN NGHỀ NGHIỆP TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DẠY NGHỀ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Ở nước ngoài Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều coi hoạt động bồi dưỡng GV là hoạt động thường xuyên và là một trong các giải pháp phát triển nguồn nhân lực Giáo dục và đào tạo. Việc tạo mọi điều kiện thuận lợi để mọi GV có cơ hội học tập thường xuyên, học tập suốt đời để kịp thời bổ sung kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp nhằm đáp ứng các yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội là trách nhiệm của các cấp quản lý giáo dục và của cả đội ngũ GV.
Các trường sư phạm và một số trường dạy nghề ở Mỹ, New Zealand, Canada, Philippin, Nhật Bản, Triều Tiên và Thái Lan,. đã coi việc bồi dưỡng và đào tạo lại đối với GV và CBQL tại các cơ sở giáo dục là nhiệm vụ bắt buộc đối với mọi người lao động sư phạm trong các cơ sở giáo dục. Nghiên cứu về nội dung, phương pháp quản lý được khá nhiều tác giả quan tâm khai thác, bàn về khía cạnh khác nhau của nội dung và phương pháp quản lý nguồn nhân lực. Trong lĩnh vực quản lý giáo dục, quản lý nhà trường, một số công trình khoa học trình bày về quản lý nhà trường, quản lý nguồn nhân lực trong giáo dục, chẳng hạn như: Pam Robbins Harvey B.
Alvy (2004) với cẩm nang dành cho hiệu trưởng. Nội dung cuốn sách giới thiệu cách nhìn về giáo dục và quản lý giáo dục đồng thời cung cấp những đề xuất về kiến thức và kỹ năng quản lý nhà trường hiệu quả trong điều kiện và xu thế phát triển kinh tế xã hội nhất định [16]. Ở Đức, luật dạy nghề năm 2005 quy đinh về yêu cầu đối với đội ngũ GV dạy nghề phải có kiến thức kỹ năng sư phạm và năng lực nghề nghiệp, việc đào 6 tạo và bồi dưỡng GV được xem như một quá trình lâu dài và diễn ra theo những yêu cầu chuẩn mực nhất định đồng thời có những có sở chặt chẽ [28]. Tác phẩm Quản lý giáo dục - Nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn của Wayne K.
Việc tạo mọi điều kiện để mọi người có cơ hội học tập, học tập thường xuyên, học tập không ngừng để kịp thời bổ sung kiến thức và đổi mới phương pháp giảng dạy để phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội là phương châm hành động của các cấp giáo dục. Các trường ở Úc, New Zeland, Canada … đã thành lập các cơ sở chuyên bồi dưỡng GV để tạo điều kiện thuận lợi cho GV học tập nhằm không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ [4, tr. Việc nâng cao chất lượng đội ngũ GV, bồi dưỡng và đào tạo lại cho đội ngũ GV, CBQL giáo dục là nhiệm vụ bắt buộc đối với người lao động sư phạm tại Nhật Bản. Tùy theo thực tế của từng đơn vị, từng cá nhân mà cấp quản lý giáo dục đề ra các phương thức bồi dưỡng khác nhau trong một phạm vi theo yêu cầu nhất định.
Cụ thể là mỗi cơ sở giáo dục nghề nghiệp cử 3 đến 5 GV được đào tạo lại một lần theo chuyên môn mới và tập trung vào đổi mới phương pháp dạy học. Ở Thái Lan, từ năm 1988 việc bồi dưỡng GV được tiến hành ở các trung tâm học tập cộng đồng nhằm thực hiện giáo dục cơ bản, huấn luyện kỹ năng nghề nghiệp và thông tin tư vấn cho mọi người dân trong xã hội. Tại Liên Xô (cũ) các nhà nghiên cứu quản lý giáo dục như: M.Khiđominxki… đã rất quan tâm tới việc nâng cao chất lượng dạy học thông qua các biện pháp quản lý có hiệu quả, muốn nâng cao chất lượng dạy học phải có đội ngũ GV có năng lực. Họ cho rằng kết quả toàn bộ hoạt động của nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào việc tổ chức đúng đắn và hợp lý công tác quản lý bồi dưỡng, phát triển đội ngũ.
Ở trong nước Tại Việt Nam, vấn đề phát triển đội ngũ GV nói chung, đội ngũ GV dạy nghề nói riêng được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm. Theo đó, nhiều công trình khoa học nghiên cứu về đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ GV được nghiên cứu và triển khai vào thực tiễn. Vấn đề phát triển giáo dục và nâng cao chất lượng đội ngũ GV đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra trong thư gửi các cán bộ, các thầy giáo, cô giáo, NV, HSSV nhân dịp bắt đầu năm học mới ngày 16 tháng 10 năm 1968 rằng “Giáo dục nhằm đào tạo những người kế tục sự nghiệp cách mạng to lớn của Đảng và nhân dân, do đó các ngành các cấp Đảng, chính quyền địa phương phải thực sự quan tâm đến sự nghiệp này, phải chăm sóc nhà trường về mọi mặt, đẩy sự nghiệp giáo dục của ta những bước phát triển mới” [12, tr. Ngoài ra, có thể kể tới một số luận văn Thạc sĩ nghiên cứu về xây dựng phát triển đội ngũ GV như: Luận văn Thạc sĩ “Các biện phát quản lý công tác bồi dưỡng cán bộ, giảng viên của Đại học Quốc gia Hà Nội” năm 2014 của tác giả Nguyễn Kiều Oanh.
Trong đề tài này, tác giả tập trung nghiên cứu biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, giảng viên đang làm việc và giảng dạy trực tiếp tại trường đại học Quốc gia Hà Nội [14]. Luận văn Thạc sĩ “Những biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng giáo viên dạy thực hành tại trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp I” năm 2015 của tác giả Trần Ngọc Ban. Trong đề tài này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu đổi mới quản lý công tác bồi dưỡng đội ngũ GV dạy thực hành đang trực tiếp giảng dạy tại trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp I [1]. Bài báo Khoa học “Đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp” tác giá thạc sĩ.
Phạm Thị Thu Hiền - Đại học Công nghiệp Hà Nội. Trong bài báo này tác giả tập trung khái quát tình hình, tính cấp thiết của việc đổi mới nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp trong nước. 8 Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nêu trên đã tập trung nghiên cứu về lý luận, thực trạng và các biện pháp phát triển đội ngũ GV, giảng viên của lĩnh vực giáo dục chuyên nghiệp và giáo dục đại học; ít có công trình nào nghiên cứu đầy đủ về vấn đề bồi dưỡng bồi dưỡng đội ngũ GV theo chuẩn nghề nghiệp trong lĩnh vực dạy nghề. Mặt khác công trình nghiên cứu về bồi dưỡng đội ngũ GV dạy nghề lại chưa tập trung vào chuẩn GV dạy nghề theo các quy định trong luật giáo dục nghề nghiệp 2014.
Đặc biệt là chưa có công trình nghiên cứu nào về bồi dưỡng phát triển triển đội ngũ GV của hệ đào tạo trình độ Cao đẳng dạy nghề theo Thông tư 08/2017/TT-BLĐTBXH của Bộ LĐTB&XH ban hành ngày 10 tháng 03 năm 2017. Chính vì vậy, chúng tôi nhận thấy đây là vấn đề cần tiếp tục được quan tâm nghiên cứu. Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý Hoạt động quản lý bắt nguồn từ phân công lao động của xã hội loài người nhằm đạt mục tiêu hiệu quả và năng suất lao động cao hơn.
Là một dạng hoạt động đặc biệt quan trọng của con người, quản lý chứa đựng nội dung rộng lớn, đa dạng, phức tạp và luôn vận động, biến đổi, phát triển trong những giai đoạn lịch sử nhất định. Có thể nói, xuất phát từ những khía cạnh nghiên cứu khác nhau mà nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước trình bày cách giải thích của riêng họ về quản lý. Cho đến nay, khó có thể xác định được cách giải thích thống nhất về quản lý. Đặc biệt là các nhà khoa học và quản lý đưa ra nhiều khái niệm phong phú về quản lý.
Có rất nhiều cách định nghĩa khái niệm quản lý như của các học giả nước ngoài F.Taylo; Harold Koontz, Stephen P. Jones và Jennifer M. George; Paul Hersey và Ken Blanc Hard; trong nước có tác giả Nguyễn Minh Đạo, tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc, tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt… Nhìn chung, các trường phái quản lý học giới thiệu một số định nghĩa: F.W Taylor là một trong những người đầu tiên khai sinh ra khoa học quản lý và là “ông tổ” của trường phái “quản lý theo khoa học”, tiếp cận quản lý 9 dưới góc độ kinh tế - kỹ thuật cho rằng: “Quản lý là hoàn thành công việc của mình thông qua người khác và biết được một cách chính xác họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [25, tr. Harold Koontz (1998) cho rằng: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu nhằm đảm bảo sự phối hợp nỗ lực của cá nhân để đạt được mục đích của nhóm (tổ chức), mục tiêu của quản lý là hình thành môi trường trong đó con người có thể đạt được mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [8], [25, tr.
Tác giả Paul Hersey và Ken Blanc Hard (1995) giải thích: “Quản lý là quá trình cùng làm việc giữa nhà quản lý với người bị quản lý, thông qua hoạt động của cá nhân, của nhóm, huy động các nguồn lực khác để đạt mục tiêu của tổ chức” [17, tr. Từ điển Giáo dục học (2001), “Quản lý là hoạt động hay tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [18, tr. Các tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt (1988) cho rằng: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định” [13, tr. Tác giả Nguyễn Đức Trí (1999) định nghĩa: “Quản lý là một quá trình tác động có định hướng, có chủ đích, có tổ chức, có lựa chọn trong số các tác động có thể có, dựa trên thông tin về tình trạng và môi trường, nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục tiêu đã định” [23].
Những định nghĩa nêu trên cho thấy, quản lý là quá trình tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý trong một tổ chức nhằm đảm bảo cho sự vận động, phát triển của hệ thống phù hợp với quy luật khách quan, trong đó sử dụng và khai thác hiệu quả các tiềm năng, các cơ hội để đạt được mục tiêu đã định theo ý chí của nhà quản lý [24, tr.