Mở đầu: Giới thiệu khái quát đề tài: + Lý do chọn đề tài + Mục đích nghiên cứu + Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu + Giả thuyết khoa học + Nhiệm vụ nghiên cứu + Phạm vi nghiên cứu + Phƣơng pháp nghiên cứu, + Đóng góp của luận văn + Cấu trúc luận văn. -P ầ ộ du gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý công tác bồi dƣỡng chuyên môn đội ngũ giáo viên ở trƣờng tiểu học Chƣơng 2: Thực trạng quản lý công tác bồi dƣỡng chuyên môn đội ngũ giáo viên ở các trƣờng tiểu học huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý công tác bồi dƣỡng chuyên môn đội ngũ giáo viên ở các trƣờng tiểu học huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định. - P ầ kết uậ kế ị T ệu t am k ả P ụ ục e 7 C ƣơ 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ CÔNG TÁC BỒI DƢỠNG CHUYÊN MÔN CHO GIÁO VIÊN Ở TRƢỜNG TIỂU HỌC 1.
Khái quát tình hình cứu vấ đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Hầu hết các nƣớc trên thế giới đều coi việc bồi dƣỡng chuyên môn là vấn đề cơ bản trong giáo dục phát triển. Lao động tạo ra vạn vật để mọi ngƣời có đƣợc cơ bản học tập, học tập bình thƣờng, học tập là thời gian phải tiếp tục nhận xét và thay đổi phƣơng pháp học tập mới cho phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội phƣơng châm hoạt động của quản lý giáo dục. Bồi dƣỡng giáo viên là quá trình bổ sung nhằm mục đích nâng cao trình độ chuyên môn và hoàn thiện năng lực sƣ phạm của GV.
Theo từ điển giáo dục học: BDGV đƣợc coi là hoạt động đào tạo lại, giúp giáo viên cập nhật đƣợc những kiến thức khoa học chuyên ngành, những phƣơng pháp mới, tiếp thu những kinh nghiệm giáo dục tiên tiến, để từ đó nâng cao thêm trình độ chuyên môn và nghiệp vụ sƣ phạm. Vì vậy, Nhà trƣờng và các cơ quan QLGD cần có kế hoạch lâu dài về BDGV nhằm thoả mãn nhu cầu nghề nghiệp của Nhà giáo, đồng thời đáp ứng những đòi hỏi nâng cao chất lƣợng giáo dục, đào tạo của cơ sở giáo dục. BDGV đƣợc tiến hành chủ yếu dƣới hai hình thức: Tập trung và thƣờng xuyên. Hội nghị UNESCO tại Nepan năm 1998 về tổ chức quản lý nhà trƣờng đã nêu rõ:“Xây dựng và bồi dƣỡng đội ngũ giáo viên là vấn đề cơ bản trong phát triển giáo dục”.
Đại đa số các trƣờng sƣ phạm ở Úc, New Zealand, Canada… đều thành lập các chuyên gia đào tạo nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên tham gia học nhằm không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn. Ở Philippines, đã nâng cao chất lƣợng giáo viên không tổ chức trong năm e 8 học mà tổ chức đào tạo thành từng khóa trong kỳ nghỉ hè. Buổi học đầu tiên bao gồm nội dung học tập, nguyên tắc giảng dạy, tâm lý học và đánh giá giáo dục; Đầu mối thứ hai bao gồm các môn học về hệ thống con ngƣời, triết lý giáo dục, nội dung và phƣơng pháp giáo dục; bao gồm nghiên cứu giáo dục, viết tài liệu giáo dục và tƣ tƣởng tích hợp bao gồm kiến thức nâng cao, kỹ năng tiếp thu, lập kế hoạch giảng dạy, viết tài liệu giảng dạy, viết giáo dục khoa học, tham khảo sách. Tạo việc làm cho giáo viên mới ra trƣờng, giảm bớt tình trạng thất nghiệp đối với giáo viên mới.
Thể chế hóa và củng cố việc bồi dƣỡng tại chức, nâng cao nhận thức của nhân dân về vai trò, tầm quan trọng của nghề dạy học và vị thế của giáo viên trong xã hội. Ở Nhật Bản, việc đào tạo lại và bồi dƣỡng giáo viên, Bộ quản lý giáo dục là nhiệm vụ bắt buộc đối với những ngƣời làm công tác giáo dục. Theo thực tế của từng đơn vị, từng cá nhân mà cấp bộ môn quản lý để tạo ra những phƣơng pháp đào tạo khác nhau trong một phạm vi yêu cầu nhất định. Cụ thể, mỗi cử chỉ giáo dục từ 3 đến 5 giáo viên sẽ đƣợc đào tạo lại một số lần theo các chuyên ngành mới và tập trung hơn vào việc thay đổi phƣơng pháp giảng dạy.
Giáo viên đƣơng nhiệm đƣợc bồi dƣỡng bằng nhiều hình thức, ở nhiều cấp với phƣơng thức đổi mới, đa dạng. Chính sách đãi ngộ giáo viên chủ yếu thể hiện qua lƣơng, phụ cấp, trợ cấp. Mức tăng lƣơng dựa vào thành tích và thâm niên công tác, trung bình 1 năm hoặc 2 năm một lần. Ở Thái Lan, từ năm 1998, việc đào tạo giáo viên đã đƣợc thực hiện ở các trung tâm học tập cộng đồng nhằm cung cấp thông tin giáo dục cơ bản, đào tạo kỹ năng và cố vấn cho mọi ngƣời trong xã hội.
Tại Hàn Quốc, một trong những quốc gia có chính sách bồi dƣỡng và đào tạo giáo viên rất thiết thực. Mọi thành phần giáo dục phải tham gia đầy đủ nội dung chƣơng trình bồi dƣỡng nghiệp vụ theo quy định. Chính phủ đã đƣa ra một "chƣơng trình đào tạo giáo viên mới" để đào tạo giáo viên đã đƣợc thực hiện trong 10 năm và một "chƣơng trình trao đổi" để gửi giáo viên ra nƣớc ngoài đào tạo. e 9 Đối với Cộng hòa Pháp, một quốc gia có nền giáo dục rất phát triển ở Châu Âu, đã xây dựng 49 nguyên tắc mới cho giáo dục.
Trong đó có đề cập đến công tác đào tạo, bồi dƣỡng thƣờng xuyên giáo viên: mỗi giáo viên đƣợc hƣởng ít nhất 35 giờ đối với công tác đào tạo tiếp tục hàng năm. Tăng cƣờng làm việc theo nhóm để chia sẻ và học hỏi kinh nghiệm giảng dạy lẫn nhau. Thời gian làm việc của giáo viên giảm từ 18 giờ xuống 15 giờ/tuần, thạc sĩ giảm từ 15 giờ xuống 14 giờ/tuần. Nhƣng giáo viên phải có 4 giờ/tuần có mặt trong nhà trƣờng để nghiên cứu tài liệu chuẩn bị cho các hoạt động giảng dạy, đối với thạc sĩ là 3 giờ/tuần tức là 132 giờ/năm.
Công tác đào tạo bồi dƣỡng cán bộ QLGD đƣợc chú trọng. Bồi dƣỡng đội ngũ giáo viên về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ là hoạt động có mục đích, có tổ chức của các chủ thể bồi dƣỡng tác động đến đội ngũ giáo viên nhằm nâng cao năng lực cho đội ngũ giáo viên, đáp ứng với yêu cầu giáo dục ở bậc trung học phổ thông và đáp ứng với chuẩn giáo viên trung học phổ thông theo quy định của Nhà nƣớc. Để công tác BDGV có hiệu quả, Hiệu trƣởng cần đánh giá đúng tình hình thực trạng năng lực đội ngũ giáo viên cần xác định đƣợc nhu cầu bồi dƣỡng của bản thân về nội dung, mức độ cần đạt. Trên cơ sở đó, Hiệu trƣởng xây dựng kế hoạch bồi dƣỡng của trƣờng để xác định nội dung, thời gian, đối tƣợng bồi dƣỡng.
Tóm lại, quản lý hoạt động BDGV là nhằm nâng cao phẩm chất, năng lực sƣ phạm, năng lực giáo dục của giáo viên, đồng thời chuẩn hóa trình độ của đội ngũ nhà giáo, từng bƣớc nâng cao chất lƣợng giáo dục của nhà trƣờng, cung cấp nguồn nhân lực có chất lƣợng cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc. Các nghiên cứu ở Việt Nam Đảng và nhà nƣớc ta đã khẳng định nguồn lực con ngƣời là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nƣớc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH-HĐH). Ban Bí thƣ Trung ƣơng Đảng Cộng sản Việt Nam đã có Chỉ thị số 40 CT/TW ngày 15/6/2004 về “Xây dựng, nâng cao chất lượng nhà e 10 giáo và đội ngũ cán bộ QLGD”. Vấn đề phát triển giáo dục và nâng cao chất lƣợng đội ngũ giáo viên đã đƣợc Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra trong thƣ gửi các cán bộ, các thầy giáo, cô giáo, công nhân viên, học sinh, sinh viên nhân dịp bắt đầu năm học mới ngày 16 tháng 10 năm 1968 rằng: “Giáo dục nhằm đào tạo những người kế tục sự nghiệp cách mạng to lớn của Đảng và nhân dân, do đó ngành các cấp Đảng, chính quyền địa phương phải thật sự quan tâm đến sự nghiệp này.
Phải chăm sóc nhà trường về mọi mặt, để sự nghiệp giáo dục của ta những bước phát triển mới”. Kể từ sau Cách mạng Tháng Tám thành công và cuộc cải cách giáo dục năm 1950, 1956, 1979 và từ năm 1986, cả nƣớc bƣớc vào thời kỳ đổi mới toàn diện để thực hiện mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH – HĐH). Giáo dục cũng phải đổi mới, bắt đầu từ đây, việc đào tạo bồi dƣỡng đội ngũ giáo viên đã dần đƣợc chuẩn hoá. Hai chu kỳ bồi dƣỡng thƣờng xuyên 1992 – 1996, 1997 – 2000 và chƣơng trình bồi dƣỡng thƣờng xuyên chu kỳ III năm 2003 - 2007 đã rút ra những kinh nghiệm cho hoạt động bồi dƣỡng nâng cao năng lực sƣ phạm đối với đội ngũ giáo viên phổ thông nói chung và đội ngũ giáo viên tiểu học nói riêng.
Trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế nhƣ hiện nay, Đảng và Nhà nƣớc ta càng chú trọng xây dựng đội ngũ giáo viên cũng nhƣ công tác bồi dƣỡng giáo viên đảm bảo chất lƣợng để phục vụ sự nghiệp giáo dục, sự nghiệp cách mạng của Đảng. Ở Việt Nam, giáo viên giữ vai trò chủ đạo trong việc nâng cao chất lƣợng và hiệu quả giáo dục. Do đặc điểm của công việc, giáo viên phải thƣờng xuyên đƣợc bồi dƣỡng, tự bồi dƣỡng để cập nhật kiến thức, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ nhằm đáp ứng yêu cầu của xã hội. Chỉ thị số 18/2001/CT – TTg của thủ tƣớng chính phủ và chỉ thị số 40/ CT – TW ngày 15/6/2004 của Ban Bí thƣ trung ƣơng Đảng Cộng sản Việt Nam về “Xây dựng, nâng cao chất lượng nhà giáo và đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục” đã tạo đà cho sự nghiệp đổi mới giáo dục.
e 11 Thực tiễn giáo dục cho thấy, đội ngũ nhà giáo là một trong các nhân tố đặc biệt đảm bảo cho sự nghiệp đổi mới và phát triển giáo dục. Thủ tƣớng chính phủ đã có quyết định số 09/2005/ QĐ – TTG về việc phê duyệt đề án “Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2005 – 2010”[13, tr. Đặc biệt, Luật giáo dục năm 2005 là văn bản pháp lý cao nhất, quy định sự hoạt động thống nhất, toàn diện trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam, nhằm tăng cƣờng hoạt động quản lý Nhà nƣớc về giáo dục. Nhƣ vậy, nâng cao chất lƣợng giáo viên và đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục là nhiệm vụ hết sức thiết yếu nhƣng không ít khó khăn đối với các cấp quản lý giáo dục từ Trung ƣơng đến địa phƣơng.