CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG CHUYÊN MÔN CHO GIÁO VIÊN TIẾNG ANH TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Các nhà quản lý học như Fiedeich Wiliam Taylor (1856-1915) người Mỹ; Henri Fayol (1841-1925) người Pháp và Max Weber (1864-1920) người Đức đều khẳng định: quản lý là khoa học đồng thời là nghệ thuật thúc đẩy của xã hội. Trong bất cứ lĩnh vực nào của xã hội thì quản lý luôn giữ vai trò trong việc điều hành và phát triển. Trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, quản lý là nhân tố giữ vai trò then chốt trong việc đảm bảo nâng cao chất lượng giáo dục [25].
Trong xây dựng và phát triển đội ngũ GV nhà giáo dục học V.A Xukhomlinxki (1918-1970) đã từng yêu cầu: “Phải bồi dưỡng đội ngũ GV, phát huy được tính sáng tạo trong lao động của họ và tạo ra khả năng ngày càng hoàn thiện tay nghề sư phạm, phải biết lựa chọn GV bằng nhiều nguồn khác nhau và bồi dưỡng họ trở thành những GV tốt theo tiêu chuẩn nhất định, bằng các biện pháp khác nhau”.A Xukhomlinxki cho rằng phải bồi dưỡng cả về chuyên môn nghiệp vụ, lẫn phẩm chất đạo đức cho đội ngũ này. Ông rất đề cao tầm quan trọng của việc tổ chức hội thảo chuyên môn, qua đó GV có điều kiện trao đổi những kinh nghiệm về chuyên môn nghiệp vụ để nâng cao trình độ của mình [27]. Quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh là một phần quan trọng trong chương trình phát triển giáo dục ở nhiều nước trên thế giới. Các hình thức hoạt động dạy và học tiếng Anh diễn ra phong phú, đa dạng, nhằm mục đích 7 thúc đẩy quá trình hội nhập của các nước, phục vụ cho việc phát triển kinh tế xã hội.
Có thể điểm qua một số điển hình về hoạt động dạy và học tiếng Anh ở một số quốc gia trên thế giới. - Các nước như Hoa kỳ, Nhật bản, Singapore,… luôn xem GV là điều kiện tiên quyết của sự nghiệp giáo dục và phát triển giáo dục. Vì vậy, chính phủ Hoa kỳ đã lấy giải pháp phát triển đội ngũ CBQL và GV làm then chốt trong chiến lược đưa giáo dục Hoa Kỳ vươn lên trong tốp đầu về chất lượng của giáo dục thế giới. - Ở Trung Quốc: Chính phủ coi đào tạo bồi dưỡng giáo viên là “Máy cái” của toàn bộ ngành giáo dục, là cơ sở nền tảng cho việc dạy dỗ thế hệ mới, đào tạo nên những con người có tư tưởng đạo đức tốt, có học vấn sâu sắc và sẵn sàng thích ứng thế giới tương lai.
Họ dành cho GV những danh hiệu cao quý như: “Viên kim cương của nhân loại”, “Người vun trồng các bông hoa của dân tộc”. Họ đã “Tăng đầu tư ưu tiên xây dựng và củng cố các trường sư phạm trọng điểm, coi đó là đối sách chiến lược của toàn bộ sự nghiệp giáo dục, coi việc làm tốt công tác giáo dục sư phạm là chức năng của chính phủ”. - Ở Pháp: Việc bồi dưỡng giáo viên được thực hiện theo 3 hướng chính: Coi trọng việc tự nâng cao trình độ nghề nghiệp của GV; Tạo ra sự phù hợp với công việc đối với tất cả GV đặc biệt là đối với GV dạy các môn mà lĩnh vực đó luôn có sự phát triển mạnh mẽ và các thiết bị trở nên lạc hậu; Định kỳ xác định những kiến thức sẽ phải đưa vào tổng thể chương trình bồi dưỡng để tổ chức BDGV. Có thể nói ở Pháp luôn có sự chú trọng tới vấn đề BDGV, bởi họ luôn mong muốn có đội ngũ giáo viên có chất lượng cao nhằm đảm bảo mục tiêu, kế hoạch giáo dục và đào tạo.
Việc dạy và học tiếng Anh được tiến hành liên thông lên bậc cao đẳng 8 và đại học. Tiếng Anh được sử dụng làm ngôn ngữ chính trong nghiên cứu và giảng dạy (nhiều trường đại học liên kết đào tạo với các trường đại học danh tiếng của Mỹ và Anh, các giảng viên sử dụng tiếng Anh để giảng bài nên rất ít trường sử dụng các ngôn ngữ khác). Nhìn chung các nước trên thế giới đều quan tâm đến vấn đề bồi dưỡng GV và đều có hệ thống bồi dưỡng giáo viên từ trung ương đến địa phương. Hình thức bồi dưỡng tuỳ thuộc vào điều kiện của từng quốc gia, xây dựng quy trình phù hợp, từng bước nâng cao chất lượng đội ngũ GV.
Các nghiên cứu ở trong nước Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến công tác xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo, trong đó chú trọng đến công tác bồi dưỡng giáo viên. Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 15/6/2004 của Ban Chấp TW Đảng về việc xây dựng nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục đã nhấn mạnh mục tiêu “Xây dựng đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục được chuẩn hóa, đảm bảo đủ chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm, tay nghề của nhà giáo… đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Quyết định số 711/2012/QĐ-TTg ngày 13/06/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020: “Đổi mới mạnh mẽ công tác đào tạo sư phạm, hoạt động bồi dưỡng nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục”.[13] Hiện nay, bất kỳ quốc gia nào trên thế giới đều nhận thức được vai trò to lớn của GD đối với sự ổn định chính trị, phát triển KT-XH của một nước. GD thực sự là quốc sách hàng đầu bởi GD tạo nên sự phát triển con người, là điều kiện cơ bản để hình thành, phát triển và hoàn thiện lực lượng sản xuất của xã hội.
Việt Nam chúng ta đã nhận thức rõ nét về vai trò của GD đối với sự phát triển của đất nước. Điều này thể hiện rõ trong quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà 9 nước đã khẳng định: “GD là quốc sách hàng đầu”, toàn xã hội phải có ý thức chăm lo cho sự nghiệp GD. GD ngày nay được coi là nền tảng, chìa khoá cho sự phát triển khoa học kỹ thuật, đem lại sự phồn thịnh cho đất nước. Trong chiến lược phát triển GD, quá trình dạy học có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Chính vì vậy có rất nhiều các chuyên gia, nhà giáo, nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu một cách toàn diện các vấn đề về vị trí, vai trò của việc tổ chức quá trình dạy học, ý nghĩa của việc nâng cao chất lượng dạy học, đổi mới phương pháp, hình thức dạy học như Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt, Vũ Ngọc Bảo,… Dạy học là hoạt động trọng tâm của quá trình GD, có vai trò quyết định sự thành công của hoạt động GD. Dạy học gồm hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò, đó là hai mặt luôn gắn bó mật thiết không thể tách rời của phương thức tồn tại và phát triển của xã hội và cá nhân. Đó là sự tiếp nhận và chuyển hóa những kinh nghiệm đã có của xã hội thành kinh nghiệm của cá nhân hay nói cách khác là sự chuyển giao những kinh nghiệm từ thế hệ trước cho thế hệ sau. Quản lý dạy học là quản lý một quá trình xã hội đặc thù, có vai trò quan trọng và cần thiết.
Thực tiễn và lý luận về quản lý dạy học được hình thành và phát triển cùng với sự hình thành và phát triển của xã hội loài người. Việc dạy học ngoại ngữ, đặc biệt là dạy học tiếng Anh đóng một vai trò hết sức quan trọng trong bối cảnh hiện nay khi Việt Nam đang hội nhập vào khu vực và thế giới. Trong quá trình hòa nhập này, thông thạo ngoại ngữ là điều kiện quyết định. Tiếng Anh là ngoại ngữ thông dụng nhất, đây là môn học giúp HS mở rộng và cập nhật kiến thức khoa học, tiếp cận công nghệ thông tin nhanh nhất.
Chính vì vậy mà nhiệm vụ các trường THCS hiện nay là phải cải tiến hoạt động dạy và học tiếng Anh như thế nào để thực sự có hiệu quả. Để thực hiện được điều đó thì vai trò của quản lý là chủ đạo và quyết định. Mỗi môn học có những nét đặc thù riêng đòi hỏi người quản lý cần có những hiểu biết về môn học mới có các biện pháp quản lý dạy học môn học 10 đó một cách có hiệu quả. Đã có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu việc giảng dạy ngoại ngữ ở các trung học và vấn đề quản lý giảng dạy ngoại ngữ cũng được đề cập.
Ngày 30 tháng 09 năm 2008, Chính phủ đã ký Quyết định số 1400/QĐ-TTG về việc phê duyệt Đề án "Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống GD quốc dân giai đoạn 2008-2020" với mục tiêu chung là “Đổi mới toàn diện việc dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống GD quốc dân, triển khai chương trình dạy và học ngoại ngữ mới ở các cấp học, trình độ đào tạo nhằm đến năm 2015 đạt được một bước tiến rõ rệt về trình độ, năng lực sử dụng ngoại ngữ của nguồn nhân lực nhất là đối với một số lĩnh vực ưu tiên; đến năm 2020 đa số thanh niên Việt Nam tốt nghiệp Trung cấp, Cao đẳng và Đại học có đủ năng lực ngoại ngữ sử dụng độc lập, tự tin trong giao tiếp, học tập, làm việc trong môi trường hội nhập, đa ngôn ngữ, đa văn hóa; biến ngoại ngữ trở thành thế mạnh của người dân Việt Nam, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. - Luận văn “Biện pháp QL hoạt động dạy học môn Tiếng Anh ở các trường THCS thị xã Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh” của Nguyễn Văn Dũng (2011). - Luận văn "Một số biện pháp quản lý công tác đổi mới phương pháp dạy học môn Tiếng Anh ở các trường trung học phổ thông huyện Hương Sơn tỉnh Hà Tĩnh" của Nguyễn Xuân Linh (2012). - Luận văn “Biện pháp quản lý hoạt động dạy học Tiếng Anh ở trường THCS thành phố Uông Bí tỉnh Quảng Ninh”, của Bùi Thị Thanh Huyền 11 (2014).
- Luận văn “Một số giải pháp quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh ở các trường THPT huyện Thạch Trà, tỉnh Hà Tĩnh” của Nguyễn Đình Thanh (2015). - Luận văn “Quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh tại các trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện Mộ Đức tỉnh Quảng Ngãi” của Nguyễn Đức Thanh Liêm (2016). - Luận văn “Quản lý dạy học môn tiếng Anh theo hướng tiếp cận năng lực học sinh ở các Trường THPT huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định” của Nguyễn Thanh Thạch (2017).