phần mở đầu và kết luận, luận văn chia làm ba chƣơng: 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1: Lý luận chung về thƣơng mại quốc tế và những nhân tố ảnh hƣởng đến quan hệ thƣơng mại Việt Nam - Trung Quốc Chƣơng 2: Đặc điểm quan hệ thƣơng mại Việt Nam- Trung Quốc 10 năm đầu thế kỷ XXI và tác động của nó tới nền kinh tế Việt Nam Chƣơng 3: Xu hƣớng phát triển quan hệ thƣơng mại Việt Nam – Trung Quốc đến năm 2020 và một số giải pháp gợi mở cho Việt Nam 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ THƢƠNG MẠI QUỐC TẾ VÀ NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN QUAN HỆ THƢƠNG MẠI VIỆT NAM - TRUNG QUỐC 1. Lý luận chung về thƣơng mại quốc tế 1. Lý thuyết về lợi thế tuyệt đối, lợi thế so sánh Adam Smith- nhà kinh tế chính trị học nổi tiếng ngƣời Scotland- trong nhiều tác phẩm của mình, đặc biệt là cuốn sách ―Nghiên cứu về bản chất và nguồn gốc giàu có của các quốc gia‖ - đã đề cao vai trò của thƣơng mại, đặc biệt là ngoại thƣơng đã có tác dụng thúc đẩy nhanh sự phát triển và tăng trƣởng kinh tế của các nƣớc. Song, khác với sự phiến diện của trọng thƣơng là tuyệt đối hoá quá mức vai trò ngoại thƣơng, ngoại thƣơng có vai trò rất to lớn nhƣng không phải nguồn gốc duy nhất của sự giàu có.
Sự giàu có không phải do ngoại thƣơng mà là do công nghiệp, tức là do hoạt động sản xuất đem lại chứ không phải do hoạt động lƣu thông. Theo Adam Smith, sức mạnh làm cho nền kinh tế tăng trƣởng là do sự tự do trao đổi giữa các quốc gia, do đó mỗi quốc gia cần chuyên môn vào những ngành sản xuất có lợi thế tuyệt đối, nghĩa là phải biết dựa vào những ngành sản xuất có thể sản xuất ra những sản phẩm có chi phí sản xuất nhỏ hơn so với quốc gia khác, nhƣng lại thu đƣợc lƣợng sản phẩm nhiều nhất, sau đó đem cân đối với mức cầu ở mức giá lớn hơn giá cân bằng [82]. Chính sự chênh lệch giá nhờ mức cầu tăng lên ở quốc gia khác làm cho nền kinh tế tăng trƣởng. Quan điểm trên thể hiện nội dung cơ bản của lý thuyết lợi thế tuyệt đối trong thƣơng mại quốc tế.
Một nƣớc đƣợc coi là có lợi thế tuyệt đối so với một nƣớc khác trong việc chuyên môn hoá sản xuất hàng hoá A khi cùng một nguồn lực có thể sản xuất đƣợc nhiều sản phẩm A hơn là nƣớc thứ hai. Nhƣng một nƣớc không có lợi thế nào vẫn có thể tích cực tham gia vào quá trình hợp tác và phân công lao động quốc tế để phát triển mạnh các hoạt động thƣơng mại quốc tế. Đó là lý giải của nhà kinh tế học cổ điển ngƣời Anh David Ricardo khi đƣa ra lý thuyết lợi thế so sánh trong tác phẩm nổi tiếng của mình ―Những nguyên lý của kinh tế chính trị‖, nhằm giải thích tổng quát chính xác hơn về cơ chế xuất hiện lợi ích trong thƣơng mại quốc tế vào năm 1817 [93]. Trong đó, ông giải thích rằng, mọi nƣớc đều có lợi khi tham gia vào phân công lao động quốc 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tế, bởi vì phát triển ngoại thƣơng cho phép mở rộng khả năng tiêu dùng của một nƣớc.
Nguyên nhân chính là do chuyên môn hoá sản xuất một số sản phẩm nhất định của mình để đổi lấy hàng nhập khẩu từ các nƣớc khác thông qua con đƣờng thƣơng mại quốc tế. Những nƣớc có lợi thế tuyệt đối hoàn toàn hơn hẳn các nƣớc khác, hoặc bị kém lợi thế tuyệt đối hơn so với các nƣớc khác, vẫn có thể và có lợi khi tham gia vào phân công lao động và quốc tế, vì mỗi nƣớc đều có những lợi thế so sánh nhất định về một số mặt hàng và một số kém lợi thế so sánh nhất định về một số mặt hàng khác. Vậy có thể kết luận rằng, một trong những điểm cốt yếu nhất của lý thuyết lợi thế so sánh là những lợi ích do chuyên môn hoá sản xuất và thƣơng mại quốc tế phụ thuộc vào lợi thế so sánh chứ không phải là lợi thế tuyệt đối. Lợi thế so sánh là điều kiện cần và đủ đối với lợi ích của thƣơng mại quốc tế.
Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh Văm 1990, giáo sƣ Michael Porter của Trƣờng Kinh doanh Harvard đã xuất bản những kết quả nghiên cứu chuyên sâu nhằm tìm hiểu tại sao một số nƣớc lại thành công còn một số khác lại thất bại trong cạnh tranh quốc tế, hay nói cách khác, đó là cơ sở để hình thành lý thuyết cạnh tranh trong thƣơng mại. Porter và các cộng sự đã nghiên cứu tổng cộng 100 ngành tại 10 quốc gia khác nhau. Nhiệm vụ cốt yếu là giải thích đƣợc tại sao một quốc gia đạt đƣợc sự thành công quốc tế trong một ngành cụ thể. Porter đã xây dựng lý thuyết về bốn thuộc tính lớn của một quốc gia hình thành nên môi trƣờng cạnh tranh cho các công ty tại nƣớc đó, và những thuộc tính này thúc đẩy hoặc ngăn cản sự tạo ra lợi thế cạnh tranh của quốc gia đó.
Những thuộc tính đó là điều kiện về các yếu tố sản xuất, các điều kiện về cầu, các ngành hỗ trợ và liên quan, chiến lƣợc, cơ cấu và mức độ cạnh tranh nội bộ ngành [4, tr. Porter đề cập về bốn thuộc tính này nhƣ là bốn yếu tố cấu tạo nên mô hình kim cƣơng, đó là một hệ thống tƣơng tác và củng cố lẫn nhau. Tác động của một thuộc tính sẽ phụ thuộc vào tình trạng của các thuộc tính khác. Lý thuyết nguồn lực Chúng ta đã thấy rằng lợi thế so sánh là nguồn gốc những lợi ích của thƣơng mại quốc tế, nhƣng lợi thế so sánh do đâu mà có, vì sao các nƣớc khác nhau lại có chi phí cơ hội khác nhau.
Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo đã không 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com giải thích đƣợc những vấn đề trên đây. Để khắc phục những hạn chế này, hai nhà kinh tế học Thuỵ Điển, Eli Hecksher và B.Ohlin trong tác phẩm ―Thƣơng mại liên khu vực và quốc tế‖ xuất bản 1933, đã phát triển lợi thế so sánh của David Ricardo thêm một bƣớc bằng việc đƣa ra mô hình H-O để trình bày lý thuyết ƣu đãi về nguồn lực sản xuất vốn có. Cơ sở lý luận khoa học của lý thuyết H-O vẫn chính là dựa vào lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo, nhƣng ở trình độ phát triển cao hơn là đã xác định đƣợc nguồn gốc của lợi thế so sánh chính là sự ƣu đãi về các yếu tố sản xuất mà kinh tế học phát triển đƣơng đại vẫn gọi là nguồn lực sản xuất [93]. Và do vậy, lý thuyết H-O còn đƣợc coi là lý thuyết lợi thế so sánh về các nguồn lực sản xuất vốn có, hoặc gọi là lý thuyết nguồn lực sản xuất vốn có.
Đó cũng chính là lý thuyết hiện đại về thƣơng mại quốc tế. Quy luật này đang là quy luật chi phối động thái phát triển của thƣơng mại quốc tế và có ý nghĩa chỉ đạo thực tiễn quan trọng đối với các nƣớc đang phát triển, đặc biệt đối với nƣớc kém phát triển, vì nó chỉ ra rằng đối với các nƣớc này, đa số là những nƣớc đông dân, nhiều lao động, nhƣng nghèo vốn do đó trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá đất nƣớc, cần tập trung xuất khẩu những hàng hoá sử dụng nhiều lao động và nhập khẩu những hàng hoá sử dụng nhiều vốn. Sự lựa chọn các sản phẩm xuất khẩu phù hợp với các lợi thế so sánh về các nguồn lực sản xuất vốn có nhƣ vậy sẽ là điều kiện cần thiết để các nƣớc kém và đang phát triển có thể nhanh chóng hội nhập vào sự phân công lao động và hợp tác quốc tế, và trên cơ sở lợi ích thƣơng mại thu đƣợc sẽ thúc đẩy nhanh sự tăng trƣởng và phát triển kinh tế ở những nƣớc này. Nghiên cứu những lý thuyết chung về thƣơng mại quốc tế để thấy việc hình thành bất kỳ mối quan hệ thƣơng mại song phƣơng hay đa phƣơng giữa các quốc gia, các khu vực trên thế giới đều ít nhiều phải dựa trên những lý thuyết này, coi những lý thuyết này là cơ sở để thực hiện quan hệ thƣơng mại.
Quan hệ thƣơng mại Việt- Trung cũng không là ngoại lệ, nó đƣợc xây dựng và phát triển dựa trên những lý thuyết về lợi thế so sánh, lợi thế tuyệt đối, lợi thế cạnh tranh,. 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Những nhân tố ảnh hƣởng tới quan hệ thƣơng mại Việt – Trung 1. Bối cảnh mới của quốc tế và khu vực những năm đầu thế kỷ XXI Những năm đầu thế kỷ XXI, xu hƣớng liên kết kinh tế toàn cầu và chủ nghĩa khu vực ngày càng trở nên mạnh mẽ.
Tiến trình toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới đƣợc tăng cƣờng, biểu hiện rõ nhất ở xu thế ngày càng tăng của tự do hóa thƣơng mại. Những lợi ích của tự do hóa thƣơng mại đã đƣợc chứng minh qua nửa thế kỷ tồn tại của WTO, qua sự thành công của các nền kinh tế mới nổi (NIEs), các nƣớc ASEAN, NAFTA. Các cuộc đàm phán thƣơng mại khu vực và toàn cầu diễn ra ở nhiều cấp độ song phƣơng, đa phƣơng có tác dụng thực hiện tự do thƣơng mại, xúc tiến đầu tƣ, hợp tác chuyển giao công nghệ, nâng cao hiệu suất thủ tục hải quan. Bên cạnh đó, sự gia tăng liên kết kinh tế thế giới, sự lƣu chuyển tự do các nguồn vốn khiến nền tài chính đang đƣợc quốc tế hóa, sự vận dụng và phát triển của thƣơng mại điện tử đang làm cho khái niệm về không gian và địa điểm của thị trƣờng mất dần ý nghĩa, làm cho nền kinh tế các nƣớc không chỉ liên hệ, giao lƣu mà còn đan xen, dung hợp lẫn nhau, hình thành một nền kinh tế toàn cầu.
Đến đầu thế kỷ mới, trên thế giới đã có hơn 200 thỏa thuận hợp tác khu vực và tiểu khu vực với mục tiêu tự do hóa thƣơng mại, cho thấy tự do hóa là xu thế tất yếu và không thể đảo ngƣợc. Việt Nam và Trung Quốc là hai quốc gia đang phát triển trong khu vực châu Á với đầy đủ nội lực phát triển không thể đứng ngoài trào lƣu phát triển chung của thế giới là liên kết khu vực và toàn cầu hóa. Đây đƣợc coi là điều kiện thuận lợi để thúc đẩy phát triển mối quan hệ hợp tác thƣơng mại song phƣơng Việt- Trung. Hòa chung với xu thế toàn cầu hóa, tính nhất thể hóa kinh tế khu vực đƣợc tăng cƣờng trong thế kỷ mới.