mở đầu cho những bất thƣờng mà mô hình kiểu Mỹ đang tồn tại đã không lƣờng trƣớc đƣợc” [59,1]. Do vậy, các chính phủ cánh tả, “đầu tàu” là chính phủ của Tổng thống Chavez, đã lên ngôi với lời hứa và hi vọng 21 sẽ thực hiện những cuộc cải cách để đƣa đất nƣớc thoát khỏi vòng xoáy khủng hoảng, đi theo hƣớng đi riêng phù hợp với tình hình đất nƣớc, tránh đi theo đƣờng lối của Mỹ. Có thể thấy, sự phát triển của phong trào cánh tả Mỹ Latinh và những biến động chính trị tại khu vực sau khi Tổng thống Hugo Chavez lên nắm quyền, càng góp phần làm cho quan hệ giữa Mỹ và khu vực nói chung xấu đi, đặc biệt là mối quan hệ giữa Mỹ với Venezuela khi Venezuela, dƣới sự lãnh đạo của Hugo Chavez đƣợc coi là “kẻ cầm đầu” cho những biến động ấy [1,tr. Mỹ sẽ phản ứng ra sao và hành động nhƣ thế nào để duy trì mối quan hệ với Venezuela, đồng thời gìn giữ đƣợc vị trí của Mỹ tại khu vực Mỹ Latinh là một vấn đề quan trọng đối với chính quyền Mỹ bởi trên thực tế, Mỹ vẫn đang có những lợi ích thiết yếu cả về kinh tế và chính trị tại Mỹ Latinh cũng nhƣ ở Venezuela.
Yếu tố thứ tƣ là sự gia tăng ảnh hƣởng của các cƣờng quốc bên ngoài khu vực. Quan hệ Mỹ - khu vực Mỹ Latinh nói chung và quan hệ Mỹ - Venezuela nói riêng trong giai đoạn từ năm 1998 đến nay chịu sự tác động mạnh mẽ từ sự gia tăng ảnh hƣởng của các cƣờng quốc ngoài khu vực nhƣ Trung Quốc, Nga, Nhật Bản, EU… ở khu vực vốn đƣợc coi là “sân sau” của Mỹ. Sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, đối thủ chính của Mỹ là Liên Xô không còn tồn tại, Mỹ trở thành siêu cƣờng duy nhất lãnh đạo thế giới “một cực”. Tuy nhiên, các cƣờng quốc khác, đặc biệt là Trung Quốc, đang không ngừng vƣơn lên, trở thành “mối đe dọa” không nhỏ tới lợi ích của Mỹ.
Điều đáng nói là, trong khi giai đoạn này, các chính sách đối ngoại của Mỹ hƣớng sự tập trung vào các khu vực Trung Đông và Châu Á - Thái Bình Dƣơng thì các cƣờng quốc đƣợc Mỹ xem nhƣ những đối thủ nặng ký lại thâm nhập vào thị trƣờng Mỹ Latinh, thách thức vị thế của Mỹ ngay trên sân nhà. Đặc biệt trong những năm gần đây, mối quan hệ giữa Nga và Trung Quốc với Mỹ Latinh cả trong lĩnh vực kinh tế và quân sự ngày càng sâu sắc và phát triển tốt đẹp. Năm 2010, kim ngạch thƣơng mại giữa Mỹ Latinh và Trung Quốc đạt 179 tỷ USD, tăng 51,2% so với năm 2009 và cao hơn nhiều so với mức tăng 27,3% của khu vực này với Mỹ [63]. Tầm quan trọng của khu vực Mỹ Latinh càng đƣợc làm nổi bật khi mới đây, 22 chỉ trong vòng chƣa đầy một tháng (từ tháng 7 đến tháng 8 năm 2014), cả ba vị nguyên thủ quốc gia gồm Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, Thủ tƣớng Nhật Bản Shinzo Abe và Tổng thống Nga Valdimir Putin đều thực hiện những chuyến công du dài ngày tới các nƣớc thuộc khu vực này.
Đặc biệt, Nga và Trung Quốc còn có mối quan hệ mật thiết với Venezuela kể từ khi Tổng thống Hugo Chavez lãnh đạo đất nƣớc. Tổng thống Chavez tuyên bố sẽ hợp tác chặt chẽ hơn nữa với Trung Quốc, dần thay thế vai trò là nƣớc nhập khẩu dầu thô lớn nhất của Mỹ bằng cách thúc đẩy việc xuất khẩu dầu sang thị trƣờng Trung Quốc. Hai nƣớc đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lƣợc vì sự phát triển chung từ năm 2001, và đã ký hơn 300 văn kiện hợp tác trong các lĩnh vực năng lƣợng, dầu khí, giáo dục y tế, công nghệ, thƣơng mại. Tháng 11/2011, Trung Quốc đồng ý cấp cho Venezuela khoản tín dụng trị giá 4 tỉ USD trong vòng 8 năm với lãi suất 5%, nhằm giúp quốc gia Nam Mỹ này tăng sản lƣợng dầu mỏ, nâng cấp các nhà máy điện, đẩy mạnh hoạt động khai thác quặng và nhôm.
Trƣớc đó, Trung Quốc cũng cho Venezuela vay hơn 32 tỉ USD [31]. Chính phủ Venezuela đang trả khoản vay này dƣới hình thức xuất khẩu dầu mỏ sang Trung Quốc…. Trao đổi thƣơng mại giữa hai nƣớc tăng từ 1,4 triệu USD/năm cách đây 40 năm, khi hai nƣớc mới thiết lập quan hệ ngoại giao, lên 19,2 tỷ USD năm 2013 [47]. Ngoài ra, Venezuela còn thực hiện một loạt những hợp đồng mua vũ khí của Nga, tăng cƣờng sức mạnh quân sự cho đất nƣớc.
Từ năm 2005, Venezuela đã mua hơn 4 tỉ đôla vũ khí của Nga, bao gồm 100 nghìn súng trƣờng AK-103; trực thăng vận tải Mi -26 và trực thăng tấn công HIND Mi-35; 24 máy bay chiến đấu Su-30 Sukhoi; hệ thống phòng thủ trên không nhân tạo IGLA-S, một hệ thống phòng thủ trên không hợp nhất tiên tiến; hơn 90 xe tăng T-72, vài trăm tàu chuyên chở binh sĩ bọc sắt, máy phóng tên lửa cơ động Smerch, và 4 tàu ngầm diezen cổ KILO, tất cả đều của Nga [64]. Kim ngạch thƣơng mại Nga - Venezuela đạt 1.1 tỷ USD năm 2007, tăng hơn 200% từ mức 517 triệu USD năm 2006 [42]. Việc Venezuela ngày càng xích lại gần Nga, đối thủ đáng gƣờm của Mỹ sau khi Liên Xô sụp đổ, đặc biệt là những hợp tác quân sự, kinh tế gần đây khiến cho Mỹ ngày càng lo ngại: về kinh 23 tế, Mỹ mất đi những lợi ích từ những hợp tác với Venezuela cũng nhƣ các nƣớc cánh tả; về quân sự, Venezuela đứng về phía Nga sẽ làm giảm ảnh hƣởng của Mỹ. Hơn nữa, dƣới thời lãnh đạo của Tổng thống Hugo Chavez, Venezuela là một nƣớc có sức ảnh hƣởng lớn tới khu vực Mỹ Latinh, vì thế, sự thân thiết gần đây giữa các cƣờng quốc “đối thủ” của Mỹ với khu vực Mỹ Latinh nói chung và với Venezuela nói riêng không khỏi làm cho Mỹ lo ngại.
Điều đó khiến cho giới cầm quyền Mỹ phải xem xét lại chính sách đối với khu vực mà Mỹ vẫn cho là “của ngƣời Mỹ” và tác động trực tiếp tới chính sách đối ngoại của hai bên Mỹ và Venezuela cũng nhƣ mối quan hệ giữa hai nƣớc. Do Venezuela có những ảnh hƣởng nhất định tới khu vực cho nên “đối xử” nhƣ thế nào với đất nƣớc này là một bài toán khó đối với giới lãnh đạo Mỹ. Làm thế nào để duy trì lợi ích của Mỹ ở khu vực sân nhà trƣớc những thách thức đƣợc đặt ra bởi những đối thủ ngày càng lớn mạnh, càng khiến Mỹ phải thận trọng hơn với chính sách dành cho khu vực Mỹ Latinh nói chung và Venezuela nói riêng. Những yếu tố chủ quan Bên cạnh những yếu tố khách quan nhƣ đã trình bày ở trên, mối quan hệ Mỹ - Venezuela còn chịu tác động của những yếu tố chủ quan khác nhƣ tình hình trong nƣớc và chính sách đối ngoại của hai nƣớc trong giai đoạn từ năm 1998 đến nay.
Tình hình trong nƣớc của Mỹ và Venezuela trong giai đoạn từ 1998 đến nay liên tục xảy ra những biến động lớn, tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới chính sách đối ngoại cũng nhƣ quan hệ giữa hai nƣớc. Về phía Venezuela, sự lên ngôi của vị Tổng thống cánh tả Hugo Chavez không những mở ra một kỷ nguyên mới cho đất nƣớc Venezuela mà còn đánh dấu sự khởi đầu của một giai đoạn mới trong quan hệ song phƣơng Mỹ - Venezuela. Là một sĩ quan phục vụ trong quân đội ở Barinas suốt 17 năm sau khi tốt nghiệp trƣờng Đại học Simón Bolívar ở thủ đô Caracas, Hugo Chavez đã từng thực hiện một cuộc đảo chính táo bạo năm 1992 do bất bình với tình trạng suy thoái kinh tế ngày càng trầm trọng dƣới thời Tổng thống “thân Mỹ” Carlos Andrés Pérez 24 (1989 – 1993). Tuy nhiên, cuộc đảo chính bất thành đã khiến ông phải ngồi tù hai năm và sau đó đƣợc vị Tổng thống lúc đó là Rafael Caldera (1994 – 1999) ân xá phóng thích vào năm 1994.
Bức xúc trƣớc tình trạng ngày càng suy thoái của đất nƣớc và phải chứng kiến cảnh đói nghèo cực khổ của nhân dân cũng nhƣ sự điều hành kém hiệu quả của giới cầm quyền chịu nhiều sự chi phối của Mỹ, năm 1998, Hugo Chavez quyết định đứng ra tranh cử Tổng thống. Trong các chiến dịch tranh cử, ông đã giành đƣợc sự ủng hộ lớn của tầng lớp lao động nghèo bởi lời hứa sẽ giúp họ thoát khỏi cảnh nghèo đói và chƣơng trình hành động dựa trên cơ sở của chủ nghĩa Bolivar với mục tiêu “đặt nền móng cho một nền cộng hòa mới”. Tháng 5/1998, tỉ lệ ủng hộ ông đạt 30%, đến tháng 8 thì tăng lên 39%. Và ngày 6/12/1998, Hugo Chavez đã đắc cử Tổng thống với tỉ lệ ủng hộ là 56%.
Sau khi lên nắm quyền, Tổng thống Hugo Chavez đã lãnh đạo đất nƣớc theo hƣớng thiên tả, đẩy mạnh “cuộc cách mạng Bolivar”- cuộc cách mạng mang tên của vị anh hùng giải phóng dân tộc, nhƣ một mô hình mẫu mực cho các nƣớc khác noi theo nhằm kêu gọi thiết lập một thế giới đa cực, kết thúc sự bá quyền của Mỹ [64]. Sở dĩ Hugo Chavez mang trong mình tƣ tƣởng và tinh thần chống Mỹ cao độ nhƣ vậy bởi chính những hành động can thiệp và những chính sách áp đặt đơn phƣơng của Mỹ lên các nƣớc Mỹ Latinh, đặc biệt là sự “du nhập” mô hình kinh tế chủ nghĩa tự do mới vào Mỹ Latinh nhƣ đã đề cập ở phần trên. Chính sự áp dụng một cách máy móc mô hình này của các vị tổng thống tiền nhiệm “thân Mỹ” đã khiến cho nền kinh tế Venezuela lâm vào khủng hoảng trầm trọng. Điều đó càng làm cho Tổng thống Chavez bức xúc và lên án mạnh mẽ mô hình phát triển kinh tế tự do mà Mỹ đã đƣa vào nhằm phục vụ cho lợi ích của nền kinh tế Mỹ.
Tƣ tƣởng chống Mỹ của ông ngày càng dâng cao. Do đó, ngay từ khi lên cầm quyền, chính quyền Chavez đã trở thành một thách thức, một trở ngại lớn đối với chính phủ Mỹ. Hơn nữa, sau khi nhậm chức, Tổng thống Hugo Chavez lại tuyên bố xây dựng đất nƣớc theo mô hình “Chủ nghĩa xã hội thế kỷ XXI” và thắt chặt quan hệ với Cuba, đất nƣớc duy nhất ở châu lục này đi theo con đƣờng Xã hội chủ nghĩa, đi ngƣợc lại với lợi ích của Mỹ và vẫn đang trong thời gian bị Mỹ cấm vận. Đặc biệt, 25 sự thân thiết quá mức giữa Tổng thống Chavez và lãnh tụ Đảng Cộng Sản Cuba Fidel Castro càng làm cho Mỹ lo ngại về khả năng trở lại chủ nghĩa Cộng sản sau khi Liên Xô sụp đổ.