phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có nội dung chính gồm 3 chƣơng (7 tiết). Tổng quan tài liệu nghiên cứu Chỉ có thể nói rằng, nếu bƣớc chân vào lĩnh vực triết học, mà không nghiên cứu về Platon thì đó là một thiếu sót lớn trong cuộc đời. Cũng giống nhƣ ngƣời ta nói rằng đến Trung Quốc mà chƣa đến “Vạn lý trường thành” thì xem nhƣ là chƣa đến Trung Quốc. Không phải là ngẫu nhiên khi cuộc đời và sự nghiệp của Platon nói chung và tƣ tƣởng của ông nói riêng đƣợc sự quan tâm của rất nhiều học giả, nhà nghiên cứu trên thế giới trong đó có Việt Nam.
Vì thế chúng ta dễ nhận ra rằng ở trên thế giới, các công trình nghiên cứu về lịch sử triết học nói chung trong đó có triết học Platon nói riêng tƣơng đối nhiều, bởi lẽ, muốn xây dựng học thuyết của mình, bao giờ các nhà triết học cũng phải nghiên cứu lịch sử triết học trƣớc đó. Tuy nhiên, có một thực tế Luan van 6 rằng, công trình nghiên cứu về Platon nhiều là thế, song ở Việt Nam những công trình nghiên cứu của các tác giả nƣớc ngoài đƣợc dịch ra tiếng Việt còn quá khiêm tốn. Trƣớc tiên chúng ta có thể kể ra một số công trình nghiên cứu về triết học Hy Lạp cổ đại và triết học Platon ở Liên Xô trƣớc đây. Aleksei Losev là ngƣời nghiên cứu một cách có hệ thống về cuộc đời và sự nghiệp sáng tạo của Platon trong lĩnh vực triết học và nghệ thuật.
Tập thể các nhà triết học thuộc Viện Triết học, Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô với các công trình: “Lịch sử triết học phương Tây” [54] và “Lịch sử phép biện chứng” gồm 6 tập [52], trong đó tập I (Phép biện chứng cổ đại) chủ yếu trình bày lịch sử ra đời và phát triển của phép biện chứng cổ đại, bao gồm tƣ tƣởng biện chứng của Platon. Ở nƣớc ngoài, trong các công trình nghiên cứu Platon và tƣ tƣởng chính trị của ông tƣơng đối nhiều và đa dạng. Trƣớc hết là trong các bách khoa toàn thƣ (encyclopedia) đều có những mục nghiên cứu ít nhiều sâu sắc về triết học Platon và tƣ tƣởng chính trị của ông, nhƣ “Bách khoa toàn thư triết học trên internet” (Internet Encyclopedia of Philosophy), “Bách khoa toàn thư triết học Stanford” (Stanford Encyclopedia of Philosophy), “Bách khoa toàn thư Britanica” (Encyclopaedia Britanica),“Bách khoa mở Wikipedia” (Wikipedia, the free Encyclopedia). Benjamin Jowett với những công trình biên dịch các tác phẩm Platon trong đó có “Republic” (Chính thể cộng hòa) và đƣợc công bố trên “The Internet Classics Achives”.
Benjamin Jowett và M. Knight là chủ biên của công trình “Platon chuyên khảo” (Nxb Văn hóa - Thông tin dịch, 2008) [13]; Trong tác phẩm này, các tác giả trình bày tƣ tƣởng của Platon dƣới dạng các hội thoại. Samuel Enouch Stumpt với tác phẩm “Lịch sử triết học và các luận đề” (Nxb Lao động, 2004) [46]. Luan van 7 Trong tác phẩm này, quan niệm của Platon đƣợc trình bày theo các chủ đề lý luận nhận thức, triết học đạo đức, triết học chính trị và vũ trụ quan.
Ở trong nƣớc, ngay từ khá sớm đã có công trình “Lịch sử triết học phương Tây” của Đặng Thai Mai (1950) [20] trong đó có đề cập đến tƣ tƣởng chính trị Platon. Ở miền Nam trƣớc giải phóng đã có một số bản dịch tiếng Việt các tác phẩm Platon của Trịnh Xuân Ngạn, Trần Thái Đỉnh, Lê Tôn Nghiêm trong đó có tác phẩm “Cộng hòa” do Trần Thái Đỉnh dịch (Sài Gòn, 1963) [38]. Công cuộc đổi mới đƣợc khởi xƣớng từ Đại hội lần thứ VI (12/1986), không chỉ đổi mới trên lĩnh vực kinh tế - xã hội mà đặc biệt là đổi mới trong tƣ duy lý luận và tƣ tƣởng đã thổi một luồng gió mát trong lĩnh vực nghiên cứu lý luận. Chính vì vậy mà việc nghiên cứu và dịch thuật các công trình về lịch sử triết học ngoài mácxít ngày càng đƣợc đƣợc chú trọng hơn.
Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu về lịch sử triết học Hy Lạp trong đó có triết học Platon: “Triết học Hy Lạp cổ đại” (1987) do Thái Ninh biên soạn [31], “Triết học cổ đại Hy Lạp - La Mã” (1993) do Hà Thúc Minh chủ biên [22], “Triết học Hy Lạp cổ đại” (1999) của Đinh Ngọc Thạch [48]. Đối với Platon, các tác giả phân tích một cách toàn diện trong đó có tƣ tƣởng chính trị (học thuyết về nhà nƣớc). Ngoài ra phải kể đến một loạt các công trình nghiên cứu về lịch sử triết học, trong đó các tác giả dành một phần quan trọng cho việc phân tích tƣ tƣởng triết học của Platon. Đó là, “Lịch sử triết học” [57] do Nguyễn Hữu Vui (chủ biên); “Lịch sử triết học” do Bùi Thanh Quất và Vũ Tình (chủ biên) [43], “Lịch sử triết học phương Tây” - Tập I: Thời kỳ khai nguyên triết lý Hy Lạp của Lê Tôn Nghiêm [29]; “Lịch sử triết học”, tập 1, Triết học cổ đại, do Nguyễn Thế Nghĩa, Doãn Chính (chủ biên) [28]; “Lịch sử triết học phương Tây” của Nguyễn Tiến Dũng [4]; “Đại cương về lịch sử triết học phương Luan van 8 Tây” của Đỗ Minh Hợp, Nguyễn Thanh, Nguyễn Anh Tuấn [9]; Lịch sử triết học phương Tây: Từ triết học Hy Lạp cổ đại đến triết học cổ điển Đức, của Nguyễn Tấn Hùng [10].
Trong các công trình nghiên cứu này, các tác giả có đề cập một cách khái quát các quan điểm của Platon về lý luận nhận thức, phép biện chứng, đạo đức học và chính trị học, nhƣng chƣa đi sâu vào một tác phẩm nào. Sẽ là một thiếu sót nếu không nhắc đến một số dịch thuật về lịch sử triết học trong đó có cả triết học của Platon nhƣ “Tuyển tập danh tác triết học từ Platon đến Derrida” của Forrest E. Góp vào việc nghiên cứu Platon, còn có thêm một số bản dịch các tác phẩm của Platon do dịch giả Nguyễn Văn Khoa, Trần Xuân Ngạn và Trần Thái Đỉnh [41], [42], [35], [36], [37] và [38]. Đặc biệt, trong những năm gần đây, dịch giả Đỗ Khánh Hoan đã có nhiều công trình dịch thuật các tác phẩm của Platon.
Tác phẩm “Cộng hòa” [7] đƣợc Đỗ Khánh Hoan dịch từ bản tiếng Anh “The Republic”, trong đó ông không chỉ chuyển ngữ mà còn giới thiệu tƣơng đối đầy đủ về cuộc đời và sự nghiệp của Platon. Dịch giả còn tóm tắt những nội dung chính của mỗi chƣơng và đƣa ra những lời bình luận khá sắc sảo. Tác phẩm “Ngày cuối trong đời của Socrates” [8], là một bản dịch bốn tác phẩm của Platon gồm “Euthyphro”, “Apologia” (Biện giải), “Crito” và “Phaedo” (Phaidon). Đây là những cuộc đối thoại giữa Socrates và những ngƣời khác trong những ngày cuối đời ông, trong đó thể hiện quan niệm của Platon đời sống tinh thần, đạo đức, hạnh phúc, về linh hồn, kiếp sau, v.v… Trong những năm gần đây, Platon đã thu hút sự quan tâm đặc biệt và hứng thú của các học viên khi chọn Platon làm luận văn nghiên cứu của mình có thể kể đến nhƣ:“Quan niệm của Platon về nhà nước lý tưởng” của Nguyễn Thị Quyết [44]; “Tư tưởng giáo dục của Platon qua tác phẩm Nền cộng hòa” của Phạm Bá Điền [6], Trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, luận Luan van 9 văn đã bảo vệ năm 2011 và 2012.
“Tư tưởng triết học chính trị của Platon trong tác phẩm Chính thể cộng hòa” của Trịnh Ngọc Tú [50], Trƣờng Đại học Kinh tế Đà Nẵng, năm bảo vệ 2013. Nói tóm lại các công trình nghiên cứu về Platon ở nƣớc ta tuy nhiều nhƣng chủ yếu chỉ giới thiệu khái quát các quan niệm của Platon về ý niệm, về linh hồn bất tử, về đạo đức. Trừ một số công trình đi sâu vào lĩnh vực chính trị, chƣa có công trình nào đi sâu nghiên cứu quan điểm Platon về đời sống tinh thần của con ngƣời một cách có hệ thống và đầy đủ. Thông qua các tác phẩm dịch, nghiên cứu và giới thiệu quan điểm của Platon đã nêu trên và có tham khảo một số tài liệu tiếng nƣớc ngoài, chúng tôi chọn lọc, khái quát, hệ thống lại và đi sâu hơn vào vấn đề đời sống tinh thần của con ngƣời, rút ra những giá trị và hạn chế của nó.
Đó cũng là lý do tôi chọn đề tài trên làm công trình nghiên cứu của mình. Luan van 10 CHƢƠNG 1 HOÀN CẢNH LỊCH SỬ VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA SỰ HÌNH THÀNH QUAN ĐIỂM CỦA PLATON VỀ ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA CON NGƢỜI 1.NHỮNG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ, CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CỦA SỰ HÌNH THÀNH TƢ TƢỞNG TRIẾT HỌC PLATON Hy Lạp cổ đại là một quốc gia ở khu vực Địa Trung hải (Mediterranean Sea), có lãnh thổ rộng, bao gồm miền lục địa Hy Lạp (Nam bán đảo Balkan), miền đất ven bờ Tiểu Á, và những đảo thuộc biển Êgiê (Aegian Sea). Bờ biển Hy Lạp dài có những đặc trƣng địa hình riêng ở hai nửa Đông - Tây. Bờ phía Tây gồ ghề, lởm chởm không thuận tiện cho việc xây dựng các cảng.
Bờ phía Đông lại khúc khuỷu, hình răng cƣa, tạo ra nhiều vịnh, nhiều hải cảng tự nhiên, an toàn, thuận tiện cho sự đi lại của tàu thuyền. Bờ biển phía Tây của miền Tiểu Á cũng có những điều kiện tự nhiên tƣơng tự nhƣ ở phía Đông miền lục địa Hy Lạp. Còn vùng đất liền ven bờ Tiểu Á, là vùng đất trù phú, tạo thành cầu nối, nối thế giới Hy Lạp với các nền văn minh cổ đại phƣơng Đông. Hy Lạp cổ đại có nhiều đảo lớn nhỏ nằm rải rác trên vùng biển Êgiê (Aegian Sea) thuộc Địa Trung hải, tạo thành một hành lang cầu nối giữa miền lục địa Hy Lạp với Tiểu Á.
Ở phía Nam Hy Lạp có đảo Crete trên biển Êgiê (Aegian Sea), một trung tâm thƣơng mại, đồng thời cũng là trung tâm của nền văn minh tối cổ - văn minh Crete - Mycenae trong lịch sử Hy Lạp. Phần lớn lãnh thổ Hy Lạp giáp biển, nên điều kiện tự nhiên mƣa thuận gió hòa quanh năm, con ngƣời vô cùng phóng khoáng, tƣ tƣởng cấp tiến và tự do. Cũng giống nhƣ các quốc gia cổ đại khác, điều kiện tự nhiên đã có những tác động đáng kể tới khuynh hƣớng phát triển của nền kinh tế cũng nhƣ thiết chế Luan van 11 nhà nƣớc của quốc gia cổ đại Hy Lạp. Vì thế Hy Lạp rất thuận lợi trong việc phát triển nông nghiệp, thủ công nghiệp, giao thông, thƣơng mại và các ngành khoa học, làm tiền đề cho văn minh Hy Lạp ra đời và phát triển rực rỡ.
Những tộc ngƣời Hy Lạp trên bốn vùng cƣ trú kể trên đã cùng nhau xây dựng nên lịch sử các quốc gia thành thị Hy Lạp. Họ tự nhận có cùng chung một nguồn gốc, cùng chung một ngôn ngữ, tín ngƣỡng, tôn giáo và phong tục tập quán.