Chương 1: Cơ sở khoa học quản lý nhà nƣớc về di tích lịch sử - văn hóa. 7 e Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nƣớc về di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội. Chương 3: Quan điểm và giải pháp tăng cƣờng quản lý nhà nƣớc về di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội. 8 e Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA 1.
Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài Luận văn 1. Di tích Muốn tìm hiểu khái niệm di tích, trƣớc hết phải hiểu về di sản văn hóa. Theo quy định của Luật Di sản văn hóa đƣợc Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29/6/2001, Luật sửa đổi bổ sung, một số điều của Luật Di sản văn hóa năm 2009 thì di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, đƣợc lƣu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác ở nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Theo Đại từ điển Tiếng Việt thì Di sản đƣợc hiểu là “1.
Tài sản thuộc sở hữu của ngƣời đã chết để lại: kế thừa di sản của bố mẹ. Giá trị tinh thần và vật chất của văn hóa thế giới hay một quốc gia một dân tộc để lại: di sản văn hóa” [52, tr. Di sản của các hiện vật vật lý và các thuộc tính phi vật thể của một nhóm hay xã hội đƣợc kế thừa từ các thế hệ trƣớc, đã duy trì đến hiện nay và dành cho các thế hệ mai sau [3]. Di sản văn hóa bao gồm tài sản văn hóa (nhƣ các tòa nhà, cảnh quan, di tích, sách, tác phẩm nghệ thuật, và các hiện vật), văn hóa phi vật thể (nhƣ văn hóa dân gian, truyền thống, ngôn ngữ và kiến thức) và di sản tự nhiên (bao gồm cảnh quan có tính văn hóa quan trọng và đa dạng sinh học).
Di sản văn hóa là những giá trị văn hóa tích lũy trong suốt quá trình hàng ngàn năm dựng nƣớc và giữ nƣớc của dân tộc đƣợc lƣu giữ lại. Những di sản này rất phong phú, đa dạng tồn tại dƣới nhiều loại hình khác nhau. Di sản văn hóa vật thể Là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia. 9 e Di sản văn hóa phi vật thể Là các sản phẩm tinh thần có giá trị, lịch sử, văn hóa, khoa học đƣợc lƣu giữ bằng trí nhớ, chữ viết và đƣợc lƣu truyền bằng miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lƣu giữ, lƣu truyền khác.
Theo Đại từ điển Tiếng Việt thì Di tích đƣợc hiểu là “1. Các loại dấu vết của quá khứ chủ yếu là nơi cƣ trú và mộ táng của ngƣời xƣa đƣợc khảo cổ học nghiên cứu. Di sản văn hóa lịch sử bất động: di tích văn hóa” [52, tr. Theo Bách khoa toàn thư mở thì Di tích được hiểu: là dấu vết của quá khứ còn lƣu lại trong lòng đất hoặc trên mặt đất có ý nghĩa về mặt văn hóa và lịch sử [3].
Ở Việt Nam, 1 di tích khi đủ các điều kiện sẽ đƣợc công nhận theo thứ tự: di tích cấp tỉnh, di tích cấp quốc gia và di tích quốc gia đặc biệt. Tính đến năm 2014, Việt Nam có hơn 40.000 di tích, thắng cảnh trong đó có hơn 3.000 di tích đƣợc xếp hạng di tích quốc gia và hơn 7.000 di tích đƣợc xếp hạng cấp tỉnh. Mật độ và số lƣợng di tích nhiều nhất ở 11 tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng với tỷ lệ chiếm khoảng 70% di tích của Việt Nam. Trong số di tích quốc gia có 62 di tích quốc gia đặc biệt và trong số đó có 8 di sản thế giới.
Di tích là dấu tích, công trình xây dựng, là bằng chứng của sự tiến hóa hay biến cố về lịch sử, có ý nghĩa về văn hóa; di tích là cổ vật bất động sản, là di sản văn hóa phi vật thể. Có các loại di tích nhƣ: Công trình kiến trúc nghệ thuật; Di tích nhà thờ để tƣởng niệm ngƣời chết, thƣờng ở trên hoặc gần mộ của họ; Di vật và đài tƣởng niệm để tƣởng niệm ngƣời chết, thƣờng là nạn nhân chiến tranh; Những cột thƣờng đƣợc chụp hoặc vẽ lên đó với một pho tƣợng; Mộ đá tạo thành đài kỷ niệm nhỏ cho một ngƣời chết; Lăng mộ và các ngôi mộ để đến cõi chết; Những tảng đá nguyên khối đƣợc dựng nên những mục đích tôn giáo hay để ghi nhớ; Những gò đất dựng nên để kỷ niệm những lãnh đạo lớn hay những sự kiện; Bia tƣởng niệm thƣờng đƣợc dựng lên để tƣởng niệm các nhà lãnh đạo vĩ đại; Những pho tƣợng của những cá nhân nổi tiếng; Đền hoặc công trình xây dựng cho những cuộc hành hƣơng tôn giáo, nghi lễ hay các mục đích kỷ niệm; Hồ sơ, 10 e cách trình bày thiết kế cho những tƣợng đài thành thị; Những di vật kỷ niệm những thành công quân đội; Toàn bộ khu vực thành lập nhƣ là đài tƣởng niệm để tƣởng niệm tội ác chiến tranh; Những thắng cảnh đẹp. Di tích lịch sử - văn hóa Theo Đại từ điển Tiếng Việt thì Di tích lịch sử - văn hóa đƣợc hiểu là “Tổng thể những công trình, địa điểm, đồ vật, hoặc tác phẩm, tài liệu có giá trị lịch sử hay giá trị văn hóa đƣợc lƣu lại” [52, tr. 533] Theo Bách kháo toàn thư mở: Di tích lịch sử - văn hóa là những công trình xây dựng, địa điểm, đồ vật, tài liệu và tác phẩm có giá trị lịch sử, khoa học nghệ thuật, giá trị văn hóa hoặc có liên quan đến những sự kiện lịch sử, quá trình phát triển văn hóa, xã hội [3].
Di tích lịch sử - văn hóa là di tích mang tầm cỡ có chiều sâu và bề dày của lịch sử, mang đậm nét văn hóa. Di tích lịch sử là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học. Di tích lịch sử - văn hóa là những không gian vật chất cụ thể, khách quan trong đó có chứa các điển hình lịch sử, do tập thể hoặc cá nhân con ngƣời trong lịch sử sáng tạo ra. Di tích lịch sử - văn hóa là những dấu tích, dấu vết hoạt động của con ngƣời trong quá khứ, di tích là những gì còn lại so với thời gian, những thông tin trực tiếp từ di tích lịch sử - văn hóa quốc gia và sử liệu từ các di vật có trong di tích góp phần nghiên cứu lịch sử, văn hóa của dân tộc Việt Nam.
Chúng ta có thể nhận biết kiến trúc của các di tích lịch sử - văn hóa trải qua các thời đại thông qua các dấu tích, di vật còn sót lại. Ví dụ chúng ta có thể biết đƣợc kiến trúc các ngôi đình làng đa dạng ở khu vực đồng bằng sông Hồng thay đổi qua các thời kỳ, dựa vào dấu tích còn lại của kiến trúc đình làng ngƣời ta có thể suy ra niên đại của các ngôi đình, chẳng hạn nhƣ những ngôi đình có niên đại sớm hơn thƣờng có ván sàn đình. Di vật đƣợc bảo lƣu ở các di tích, là nguồn sử liệu trực tiếp mang lại nhiều thông tin thú vị cho các nhà nghiên cứu trên các lĩnh vực khác nhau nhƣ tôn giáo, địa lý, lịch sử, thông qua di vật ở di tích nhƣ quả 11 e chuông đƣợc đúc năm nào hay nội dung văn bia có thể suy ra niên đại khởi dựng và trùng tu lại ngôi chùa, xem qua tƣợng thờ, nghệ thuật chạm khắc thông tin cho chúng ta biết đƣợc sự xuất hiện của tín ngƣỡng dân gian khác nhau qua các thời kỳ,. Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia là một bộ phận quan trọng của di sản văn hóa dân tộc, là nguồn sử liệu trực tiếp cho ta những thông tin quan trọng để khôi phục những trang sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam.
Thuộc di sản văn hóa phi vật thể, là sản phẩm của vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, di tích lịch sử - văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình địa điểm có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học. Di tích lịch sử - văn hóa nói chung do nhân dân tạo ra, là kết quả của hoạt động sáng tạo văn hóa bao gồm cả vật chất và tinh thần, một bộ phận quan trọng của di sản văn hóa dân tộc. Tiềm ẩn trong mỗi di tích lịch sử - văn hóa quốc gia có những giá trị cao cả về văn hóa và về mặt kinh tế, những yếu tố hấp dẫn rất lớn không thể thiếu để góp phần vào việc giữ gìn bản sắc dân tộc Việt Nam. Trong luận văn này, tác giả tiếp cận khái niệm di tích lịch sử văn hóa nhƣ sau: Di tích lịch sử - văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học.
Theo Luật Di sản văn hóa (sửa đổi và bổ sung năm 2009), khoản 1, Điều 28 đƣợc sửa đổi bổ sung: Di tích lịch sử - văn hóa phải có một trong các tiêu chí sau: - Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử, văn hóa tiêu biểu của quốc gia hoặc của địa phƣơng. - Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của các anh hùng dân tộc, doanh nhân, nhân vật lịch sử có ảnh hƣởng tích cực đến sự phát triển của quốc gia hoặc của địa phƣơng trong các thời kỳ lịch sử. - Địa điểm khảo cổ có giá trị tiêu biểu. 12 e - Công trình kiến trúc nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cƣ trú có giá trị tiêu biểu cho một hoặc nhiều giai đoạn phát triển kiến trúc nghệ thuật.