CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Thiết bị dạy học 1. Khái niệm, đặc điểm TBDH là một bộ phận cơ sở vật chất trường học trực tiếp có mặt trong các giờ học được GV và HS cùng sử dụng. Theo Lê Thanh Giang “TBDH là tập hợp những đối tượng vật chất được người dạy sử dụng với tư cách là những phương tiện để tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức người học”[21, tr.
Khái niệm TBDH dùng trong luận văn này được hiểu theo nghĩa: là tất cả những phương tiện vật chất có khả năng chứa đựng hay chuyển tải thông tin về nội dung dạy học nhằm hỗ trợ giáo viên và học sinh tổ chức và tiến hành hợp lý, có hiệu quả quá trình dạy học, như: phiếu học tập, tranh giáo khoa, biểu đồ, sơ đồ, hình vẽ, mô hình, dụng cụ, máy chiếu (máy chiếu đa năng, máy chiếu vật thể,.), bảng tương tác, thiết bị dạy học điện tử, các phần mềm dạy, các nguồn thông tin trên Internet,.TBDH là hệ thống đối tượng vật chất và tất cả những phương tiện được giáo viên và học sinh sử dụng trong quá trình dạy học. Chức năng, tác dụng Theo Nguyễn Bá Kim [11,tr406], mỗi TBDH có thể giúp thực hiện một số trong các chức năng sau đây: Chức năng kiến tạo tri thức: Nếu HS chưa biết thông tin chứa trong TBDH thì phương tiện này mang chức năng hình thành biểu tượng về đối tượng cần nghiên cứu, chẳng hạn mô hình hình chóp tam giác, tứ giác, ngũ giác. giúp HS hình thành biểu tượng về những hình này, góp phần xây dựng khái niệm hình chóp. Nếu HS đã biết nội dung của một khái niệm dưới dạng lời nói, văn tự hoặc ký hiệu, còn TBDH chứa thông tin dưới dạng hình ảnh hay mô hình thì TBDH có chức năng minh họa khái niệm đã biết.
Chức năng rèn luyện kỹ năng: TBDH có thể hỗ trợ rèn luyện kĩ năng sử dụng một số công cụ, ví dụ như từ điển, máy tính bỏ túi, PMDH trên máy vi 7 tính. TBDH cũng có thể giúp HS rèn luyện kĩ năng thực hiện một hoạt động nào đó, chẳng hạn những mô hình hình học không gian có thể hỗ trợ rèn luyện kĩ năng quan sát, phân tích, so sánh. Chức năng kích thích hứng thú học tập: TBDH có thể kích thích hứng thú học tập nhờ hình thức thông tin như âm thanh, màu sắc, hình ảnh động, nhờ nội dung thông tin như mô phỏng những hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và con người, ứng dụng của một lĩnh vực khoa học công nghệ, khám phá về nguyên tử, điện tử, hạt nhân. Chức năng tổ chức, điều khiển quá trình học tập: TBDH có thể có chức năng tổ chức, điều khiển quá trình dạy học.
Sách giáo viên, nhiều TBDH, bằng tiếng, bằng hình phát ra những lệnh yêu cầu HS thực hiện công việc này, chuyển sang hoạt động khác. là những TBDH có khả năng thực hiện chức năng này. Chức năng hợp lý hóa công việc của thầy và trò: TBDH còn có thể hợp lý hóa việc tiến hành một số hoạt động của thầy hoặc trò, ví dụ như trình bày văn bản và hình ảnh nhờ Powerpoint, chiếu bản trong có viết bài làm của HS, tính toán bằng máy tính bỏ túi. - Là thành tố trong quá trình dạy học, nó có mối quan hệ tương hỗ với các thành tố khác trong quá trình dạy học.
- Thiết bị dạy học là điều kiện để thực hiện nguyên lý giáo dục “học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn ’’. - Thiết bị dạy học được coi là tiền đề đổi mới phương pháp dạy học, góp phần làm sáng tỏ lý thuyết, tạo điều kiện cho học sinh hoạt động với tư cách là trung tâm của quá trình dạy học.1 - Thiết bị dạy học là yếu tố cần thiết không thể thiếu được trong quá trình dạy học, chúng có tác dụng tích cực và có tính động lực, tác động một cách có hiệu quả đối với quá trình dạy của thầy và học của trò. - Thiết bị dạy học đẩy mạnh hoạt động nhận thức và phát triển năng lực nhận thức của học sinh, giúp hoc sinh tự khám phá, chiếm lĩnh tri thức mới nhằm phát triển tư duy, óc quan sát, năng lực ghi nhớ, khả năng vận dụng sáng tạo, củng cố rèn luyện kỹ năng. - Cung cấp kiến thức cho HS một cách chắc chắn, chính xác và trực quan; do đó hấp dẫn và kích thích được hứng thú học tập của HS.
- Rút ngắn thời gian giảng dạy, bảo đảm HS lĩnh hội đủ nội dung học tập. - Thể hiện yếu tố trong thực tế khó hoặc không quan sát, tiếp cận được. Khai thác sử dụng các thiết bị dạy học trong dạy học Toán 8 Một trong những mặt mạnh của TBDH là tạo ra khả năng tác động của chúng đến việc hình thành nhân cách của HS. Thông qua việc sử dụng các mô hình, dụng cụ, các bằng hình, các phần mềm dạy học giúp hình thành ở HS một hệ thống các quan điểm, các khái niệm về nhận thức thế giới xung quanh, có thêm cơ sở để giải thích một cách khoa học các sự vật, hiện tượng.
Ngoài ra còn giúp bồi dưỡng cho HS khả năng quan sát, tính cần cù, trung thực, tác phong làm việc nghiêm túc, khoa học. 9 GV sử dụng TBDH làm gia tăng cường độ làm việc của HS, tăng thời lượng cho HS tự nghiên cứu tài liệu, tự chiếm lĩnh kiến thức. Mặt khác, việc sử dụng các TBDH hiện đại như máy chiếu, máy vi tính. hay sử dụng các PMDH, Internet.
đòi hỏi phương pháp làm việc của thầy và trò phải thay đổi theo. Theo quy định của Bộ GD - ĐT , thiết bị dạy học tối thiểu bộ môn Toán 8 gồm các thiết bị cơ bản như bảng 1 Bảng 1.1 Thiết bị dạy học tối thiểu bộ môn Toán 8 STT Tên thiết bị Tiêu chuẩn kỹ thuật I. Tranh ảnh 1 Hình khai triển các hình lăng trụ, Khổ 790mm x 540mm in 4 mầu hình hộp, hình chóp đều về điện tích loại giấy 120g/m2 xung quanh, diện tích toàn phần 2 Hình đồng dạng, tam giác đồng Khổ 790mm x 540mm in 4 mầu dạng loại giấy 120g/m2 II. Mô hình 1 Tứ giác động Bằng 4 thanh kim loại có rãnh trượt để thay đổi hình dạng 2 Bộ các tứ giác đặc biệt Bằng nhựa màu 3 Hình không gian : hình hộp chữ Bằng nhựa trong suốt có một số nhật, hình lập phương, chóp tứ giác đường vòng cơ bản.
đều có kết hợp chóp cụt III. Dụng cụ 1 Thước vẽ truyền Bằng kim laoij vẽ được hình đồng dạng lên bảng 2 Bộ dụng cụ thực hành 2 loại giác kế, cọc sắt, cọc tiêu, dây đo, thước cuộn. ( Nguồn Bộ GD-ĐT T8/2009 ) 10 Giáo viên dễ dàng sử dụng TBDH môn Toán làm tiền đề để thực hiện tốt các nội dung trong từng bài dạy. Học sinh được quan sát, làm thực hành, làm thí nghiệm giúp cho quá trình lĩnh hội tri thức được chủ động, sáng tạo.
Tuy nhiên hiện nay, các TBDH này đa số đã cũ hoặc hỏng hóc …Các nhà trường đã mua sắm và khuyến kích GV tự làm TBDH để nâng cao hiệu quả học tập bộ môn Toán nói riêng và các môn học nói chung. Với sự phát triển về công nghệ hiện nay, nhà trường đã trang bị cho từng lớp học hệ thống máy chiếu, máy tính, loa… Trình độ sử dụng CNTT của GV dần dần được nâng lên. Để có một tiết dạy thành công, GV phải nghiên cứu kỹ nội dung bài dạy. Khi có đủ tư liệu thì phải định hướng công việc: cần dạy những gì ,sử dụng phương pháp nào, cách thức dạy học ra sao, cần sử dụng đồ dùng cần thiết nào,ước lượng thời gian tổ chức dạy học.
Sử dụng thiết bị trong dạy học giúp cho học sinh biết vận dụng từ lý thuyết vào thực hành, đặt ở vị trí thích hợp để học sinh để quan sát, dể dàng tiếp cận. Một số GV đã biết sử dụng một số phần mềm trên ĐTTM thay thế cho bảng đen, phấn trắng đem lại hiệu quả cao trong dạy học bộ môn Toán nhưng chưa được phổ biến rộng rãi. Điện thoại thông minh 1. Khái niệm, đặc điểm ĐTDĐ hay còn gọi là điện thoại cầm tay, là thiết bị viễn thông liên lạc có thể sử dụng trong không gian rộng, phụ thuộc vào nơi phủ sóng của nhà cung cấp dịch vụ.
Chất lượng sóng phụ thuộc vào thiết bị mạng và phần nào địa hình nơi sử dụng máy không bị giới hạn về không gian. Hiện nay ĐTDĐ là một thiết bị không thể thiếu trong cuộc sống. Thiết bị viễn thông này sử dụng được nhờ khả năng thu phát sóng. Chức năng, tác dụng Theo thống kê của tổ chức DataReportal (tháng 1/2021), với dân số 97 triệu người, các chỉ số hiệu năng đều vào loại cao (chỉ số sở hữu thiết bị di động, 11 điện thoại thông minh, kết nối Internet, thời gian sử dụng thiết bị hàng ngày…), Việt Nam đang được đánh giá là một quốc gia trẻ đầy triển vọng trong chuỗi tiến trình phát triển trở thành quốc gia số.
Các tổ chức làm chính sách, định hướng vĩ mô cho giáo dục có uy tín đều khuyến cáo về vấn đề kĩ năng số, xóa mù số cho thế hệ công dân tương lai (DigCom, UNESCO, UNICEF, Hiệp hội quốc tế về công nghệ giáo dục – ISTE…) Bảng 1.2 Thống kê về các chỉ số sử dụng điện thoại di động ( Nguồn DataReportal T1/2021 ) Trong bối cảnh thực tiễn xã hội của Việt Nam hiện nay, có thể nói thiết bị công nghệ số “đầu đời” mà trẻ được tiếp cận chính là chiếc điện thoại thông minh trong gia đình và hiện hữu ở mọi nơi trong mọi hoạt động thực tế cuộc sống. Vấn đề thách thức đối với những người làm giáo dục là làm sao biến nó trở thành “thiết bị dạy học” đặc biệt trong hoạt động dạy học hơn là thứ “sở hữu cá nhân” và chỉ dùng với mục đích cá nhân của học sinh. ĐTTM có nhiều điểm ưu việt trong sử dụng: giúp liên lạc dễ dàng với đối tượng khác khi đối tượng đó có phương tiện để kết nối như điện thoại, máy tính … chỉ cần ở đó có sóng điện thoại, internet; nghe giọng, nhìn hình ảnh trực tiếp của người đang nói chuyện với mình một cách chân thực, gần gũi như nhắn tin, gọi điện, chat qua mạng xã hội, gửi email, tùy đối tượng có thể lựa chọn công cụ liên lạc nào cho phù hợp; là công cụ giải trí hữu ích: chơi game , nghe nhạc… là thiết bị cá nhân, được thiết kế nhỏ, gọn, tiện lợi khi di chuyển, dễ dàng sử dụng trong bất cứ điều kiện hoàn cảnh nào.