Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội và tình hình chăn nuôi dê của huyện Lạng Giang và Yên Thế - tỉnh Bắc Giang. Điều kiện tự nhiên * Lạng Giang là huyện miền núi nằm ở phía Bắc của tỉnh, có 22 xã và 3 thị trấn, Trung tâm huyện lỵ là thị trấn Vôi, phía Bắc giáp huyện Hữu Lũng (Lạng Sơn) và huyện Yên Thế, phía Nam giáp thị xã Bắc Giang, phía Đông giáp huyện Lục Nam, phía Tây giáp huyện Tân Yên. Địa hình của huyện có thể chia làm 3 vùng chính: i) vùng đồi núi gồm các xã phía Bắc của huyện có nhiều khả năng phát triển các loại cây ăn quả, rau màu và cây công nghiệp, nuôi thuỷ sản: ii) vùng địa hình tương đối bằng phẳng có khả năng phát triển kinh tế trang trại về cây ăn quả, chăn nuôi đại gia súc, tiểu gia súc, gia cầm, thuỷ sản; iii) vùng đồng bằng thuộc phía Nam của huyện có thế mạnh phát triển sản xuất lương thực, thực phẩm và các ngành dịch vụ.
Lạng Giang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình 23 - 24oC, lượng mưa trung bình 1. Nhìn chung, khí hậu rất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, nhất là trồng lúa nước, các loại cây rau màu và cây công nghiệp ngắn ngày. * Yên Thế là huyện thuộc vùng núi thấp, nhiều sông suối, độ chia cắt địa hình đa dạng. Địa hình dốc dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam.
Diện tích của huyện trên 303 km2, trong đó diện tích đất lâm nghiệp (chủ yếu là đồi núi thấp) là 13.285,11 ha, chiếm 43,36% so với tổng diện tích tự nhiên; Đất nông nghiệp 25.874,8 ha, chiếm 84,55%; Đất phi nông nghiệp 4.664,8 ha, chiếm 15,2%; Đất chưa sử dụng là 97,44 ha, chiếm 0,32%. Phía Đông Bắc của huyên Yên Thế giáp huyện Hữu Lũng – tỉnh Lạng Sơn; phía Đông Nam giáp huyện Lạng Giang; phía Tây Bắc giáp huyện Phú Bình, Đồng Hỷ và Võ Nhai của tỉnh Thái Nguyên; phía Nam giáp huyện Tân Yên. e 4 Toàn huyện có 21 xã, thị trấn với 3 trung tâm kinh tế - xã hội là thị trấn Cầu Gồ, thị trấn Bố Hạ và trung tâm cụm xã vùng cao Mỏ Trạng; có khoảng 10 vạn dân với 14 dân tộc anh em cùng chung sống, gồm: dân tộc Kinh, Tày, Nùng, Mường, Dao, Cao lan, Hoa, Sán Dìu…. Yên Thế nằm trong vòng cung Đông Triều, khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau.
Nhiệt độ bình quân cả năm là 23,4°C. Nhiệt độ trung bình cao nhất năm là 26,9°C, nhiệt độ trung bình thấp nhất năm 20,50°C; tháng có nhiệt độ cao nhất là các tháng 6, 7, 8; tháng có nhiệt độ thấp nhất là các tháng 12, 1, 2 (có khi xuống tới 0 - 10°C). Điều kiện kinh tế - xã hội * Huyện Lạng Giang hiện có 5 cụm công nghiệp gồm: cụm công nghiệp Non Sáo (Tân Dĩnh), cụm công nghiệp Tân Dĩnh - Phi Mô, cụm công nghiệp Vôi - Yên Mỹ, cụm công nghiệp Nghĩa Hòa, cụm công nghiệp Đại Lâm. 100% các xã, thị trấn trên địa bàn đã có quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, trong đó đều dành quỹ đất đáng kể để thu hút các dự án đầu tư.
Trong 5 năm qua, các dự án đầu tư vào địa bàn, các doanh nghiệp, các hộ sản xuất kinh doanh đã giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho trên 27.500 lao động trong huyện, tổng thu ngân sách nhà nước từ các doanh nghiệp giai đoạn 2011-2015 đạt 98,4 tỷ đồng. Trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp hàng hóa theo hướng tập trung, hiện nay huyện đã xây dựng cơ chế hỗ trợ và triển khai thực hiện có hiệu quả các đề án, kế hoạch như: sản xuất nấm, sản xuất lúa chất lượng cao; tổ chức liên kết nông dân với doanh nghiệp, gắn sản xuất với tiêu thụ sản phẩm. Tập trung khai thác các tiềm năng trong phát triển sản xuất nông nghiệp để hình thành các vùng sản xuất rau, tập trung vùng trồng cây thuốc lá, vùng trồng hoa. Ngoài ra, trên địa bàn huyện đã hình thành một số vùng sản xuất nguyên liệu phục vụ công nghiệp chế biến nông sản.
e 5 * Huyện Yên Thế: Trong những năm qua, kinh tế - xã hội của huyện Yên Thế phát triển khá toàn diện, có nhiều khởi sắc. Sản xuất nông, lâm nghiệp có bước phát triển nhanh và tương đối toàn diện; an ninh lương thực được đảm bảo, nhiều loại cây, con của địa phương có thế mạnh được khai thác hiệu quả như: cây chè, cây ăn quả, gà đồi… Tốc độ tăng trưởng chung của ngành đạt 8,5%/năm; cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp tiếp tục chuyển dịch tích cực, tỷ trọng ngành chăn nuôi đạt trên 65% và từng bước trở thành ngành sản xuất chính; giá trị sản xuất trên 01 ha đất canh tác ước đạt 55 triệu đồng. Tốc độ tăng trưởng giá trị chăn nuôi đạt 16,8%/năm; năm 2016, giá trị ngành chăn nuôi ước tính đạt 1.581 tỷ đồng, tăng 610 tỷ đồng so với năm 2010. Trong đó, đàn gia cầm 4.000 con, giá trị sản xuất đạt trên 1.
Yên Thế trở thành huyện có quy mô tổng đàn gia cầm lớn nhất toàn quốc, bình quân duy trì 4 triệu đến 4,2 triệu con, giá trị sản xuất đạt trên 1000 tỷ đồng. Diện tích rừng trồng mới tập trung là 5.218 ha và gần 1,6 triệu cây phân tán, nâng độ che phủ rừng lên 40%, đạt 100% chỉ tiêu. Kinh tế trang trại, gia trại tiếp tục phát triển mạnh, đến nay toàn huyện có 1.400 trang trại, gia trại (21 trang trại theo tiêu chí mới); trong đó có nhiều mô hình cho thu nhập trên 100 triệu đồng/năm. Ngoài một số sản phẩm chủ lực của địa phương như gà đồi, chè xanh… những năm gần đây, tận dụng lợi thế sẵn có về đất rừng, nguồn thức ăn tự nhiên, nhiều hộ nông dân trên địa bàn huyện Yên Thế đã mạnh dạn đầu tư đưa vào nuôi thành công một số loại vật nuôi đặc sản như dê, hươu sao… mang lại thu nhập hàng trăm triệu đồng mỗi năm.
Những mô hình kinh tế hiệu quả của nông dân đã góp phần quan trọng vào quá trình xóa đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế tại địa phương. Tình hình chăn nuôi dê ở huyện Lạng Giang và Yên Thế Nghề chăn nuôi dê đã phổ biến từ lâu tại huyện Lạng Giang và Yên Thế. Theo thống kê của Chi cục chăn nuôi và thú y tỉnh Bắc Giang: e 6 Tại huyện Lạng Giang và huyện Yên Thế, số lượng dê tính đến năm 2018 là 1081 con và 1367 con, trong đó chủ yếu hai giống dê chính là dê cỏ và dê bách thảo. Phương thức nuôi dê chủ yếu là chăn thả quảng canh, tận dụng điều kiện tự nhiên là chính, với quy mô nhỏ, phân tán, chuồng nuôi dê rất đơn giản, tạm bợ.
Các hộ chăn nuôi phần lớn là các hộ nghèo ở khu vực trung du, miền núi nên mức đầu tư thấp, hiểu biết về kỹ thuật chăn nuôi và thú y còn hạn chế. Bên cạnh đó, chăn nuôi dê vẫn gặp nhiều khó khăn như: thị trường mua bán dê còn hạn hẹp, kỹ thuật chăn nuôi dê chưa được phổ biến rộng rãi, tình hình dịch bệnh và vệ sinh thú y trong chăn nuôi dê chưa được quan tâm…Vì những nguyên nhân trên mà sự phát triển đàn dê còn chậm. Sán dây ký sinh ở đường tiêu hóa ở dê 1. Thành phần loài sán dây ký sinh Những nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy: giun sán ký sinh ở động vật Việt Nam rất phong phú, sán dây là một trong các loài giun, sán ký sinh đã được phát hiện (Nguyễn Thị Kỳ (1994)).
(1998) khi nghiên cứu tình hình nhiễm giun sán trên dê tại Germany đã phát hiện ra 2 loài sán dây là: Moniezia expansa và metacestodes của Taenia hydatigena. Các loài sán dây phổ biến ở dê, cừu và một số thú nhai lại là: Moniezia expansa, Moniezia benedeni, Avitellina centripunctata (Elkhtam và cs. Riêng loài Avitellina tatia đã được tìm thấy ở dê Ấn Độ. Loài Thysaniezia ovilla cũng rất phổ biến (Ndom và cs.
Nguyễn Thị Kim Lan (2000) cho biết: có 3 loài sán dây ký sinh ở đường tiêu hóa của dê tại 4 tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam: Moniezia expansa, Moniezia benedeni và ấu trùng Cysticercus tenuicollis của sán dây Taenia hydatigena. Khi kiểm tra việc quản lý về tình hình phòng bệnh ký sinh trùng ở 16 trang trại dê sữa ở Tây Nam nước Pháp, Silvestre A. (2000) đã thu e 7 được sán dây Moniezia spp. ký sinh trên dê.
Kết quả trên cũng trùng với kết quả nghiên cứu của Epe C. (2004), khi kiểm tra giun sán trên cừu và dê tại North Sinai Governorate, Ai Cập đã phát hiện ra sán dây Moniezia expansa. Khi nghiên cứu về tần suất và tỷ lệ nhiễm sán dây của cừu và dê tại Đông Ethiopia, đã phát hiện ra 4 loài sán dây: Moniezia expansa, Avitellina centripunctata, Stilesia globipunctata và Stilesia hepatica (Sissay và cs (2008)). Khan và cs (2010), Trần Văn Khánh (2011), Murthy và cs (2014), Krishna Murthy và cs (2016), Ojeda-Robertos và cs (2017), MT Adeyemi M.
và cs (2017) cũng xác nhận 2 loài sán dây thuộc giống Moniezia spp. ký sinh ở dê và các thú nhai lại khác. Đặc điểm hình thái và cấu tạo của các loài sán dây Sán dây ký sinh ở đường tiêu hóa của dê đều mang những đặc điểm chung của lớp sán dây Cestoda, bộ Cyclophyllidea. Song mỗi loài sán dây đều có những đặc điểm đặc trưng riêng cho từng loài.
Căn cứ vào những đặc điểm đó khi mổ khám có thể phân biệt sơ bộ các loài với nhau. * Loài Moniezia expansa - Sán: dài 1 - 5 m, chỗ rộng nhất có thể tới 1,6 cm. Đầu sán hơi tròn, có 4 giác bám hình bầu dục hơi tròn. Chiều rộng đốt sán lớn gấp khoảng 4 lần chiều dài đốt sán.
Mỗi đốt có cả cơ quan sinh dục đực và cái. Cơ quan sinh dục đực gồm nhiều tinh hoàn (300 - 400 cái) hình cầu nhỏ ở giữa đốt sán. Mỗi tinh hoàn có ống dẫn tinh riêng, hợp thành ống chung thông với túi dương vật hình lê và lỗ sinh dục đực. Cơ quan sinh dục cái kép, gồm buồng trứng phân thuỳ hình quạt, tuyến dinh dưỡng, tử cung và âm đạo, âm đạo có lỗ thông ra ở cạnh bên đốt sán.
Phần sau mỗi đốt sán có tuyến giữa đốt hình hoa thị xếp thành hàng ngang. Đốt sán già có tử cung hình túi chứa đầy trứng sán. Trứng của Moniezia expansa hình ba cạnh hoặc bốn cạnh hơi tròn, trong có ấu trùng 6 móc, ấu trùng 6 móc được bao bọc trong cơ quan hình lê. Kích thước trứng khoảng 0,05 x 0,06 mm.