Chương 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn. Một số biện pháp nhằm phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh phổ thông qua dạy giải bài tập hình học không gian bằng phương pháp tọa độ, thiết kế một số giáo án TN và đề kiểm tra. Thực nghiệm sư phạm.
6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Khái niệm Theo Từ điển tiếng Việt phổ thông, tư duy là mức độ cao của quá trình nhận thức, phát hiện ra bản chất và tính quy luật của sự vật, hiện tượng bằng những hình thức như biểu tượng, khái niệm, suy luận, phán đoán. Theo Từ điển triết học tư duy là sản phẩm cao nhất của vật chất được tổ chức một cách đặc biệt trong não bộ của con người, phản ánh thế giới khách quan trong các biểu tượng, khái niệm, phán đoán, lý luận,… Tư duy được hình thành trong quá trình hoạt động của con người và bảo đảm phản ánh thực tại một cách gián tiếp, phát hiện những mối liên hệ trong thực tại. Theo quan niệm của Tâm lý học tư duy là một quá trình tâm lý thuộc nhận thức lý tính, là sự nhận thức ở mức độ cao về chất so với cảm giác và tri giác.
Tư duy phản ánh những thuộc tính bên trong, bản chất của sự vật, hiện tương, những mối liên hệ có tính quy luật mà trước đó ta chưa từng biết tới.Đặc điểm cơ bản của tư duy a) Tính có vấn đề của tư duy Khi gặp các tình huống, hoàn cảnh mà vốn hiểu biết cũ, phương pháp hành động đã biết của chúng ta không đủ để giải quyết đấy là chúng ta rơi đã vào “tình huống có vấn đề”. Khi chúng ta gặp các tình huống có vấn đề mà ta có nhu cầu giải quyết nó thì nó có tác dụng kích thích thúc đẩy tư duy tiến lên nhằm vạch ra những quy luật bản chất của vấn đề đó, hay nói một cách khác là chúng ta phải tư duy. Chính những hoàn cảnh có vấn đề đã kích thích con người tư duy. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com b) Tính khái quát, tính trừu tượng của tư duy Tư duy phản ánh cái bản chất bên trong của nhiều sự vật hiện tượng, đồng thời nó đã trừu xuất ra khỏi những sự vật hiện tượng đó.
Nhờ tính khái quát và trừu tượng của tư duy, tư duy có thể cho phép ta đi sâu vào bản chất đồng thời mở rộng phạm vi nhận thức sang những sự vật hiện tượng cụ thể mới mà trước đó ta chưa từng biết. Sự mở rộng không giới hạn của tư duy về nhận thức là nhờ tính trừu tượng và khái quát của tư duy. c) Tính độc lập tương đối Trong đời sống, con người luôn luôn giao tiếp với nhau để trao đổi với nhau về mọi mặt của đời sống xã hội, do đó tư duy của mỗi người vừa tự biến đổi trong quá trình hoạt động của bản thân vừa chịu sự tác động và biến đổi từ tư duy của nhân loại thông qua những hoạt động cụ thể. Do đó, tư duy không chỉ gắn với bộ não của từng cá nhân mà còn gắn với sự tiến hóa của xã hội, để trở thành một sản phẩm có tính xã hội trong khi đó tính cá thể của mỗi người vẫn được duy trì một cách nhất định.
Mặc dù được hình thành và phát triển từ các kết quả hoạt động thực tiễn nhưng tư duy vẫn có tính độc lập tương đối. Ngay từ khi xuất hiện, tư duy đã được thừa hưởng toàn bộ tri thức mà nhân loại tích lũy được trước đó. Ngoài ra tư duy còn chịu ảnh hưởng, tác động của các lý thuyết, các quan điểm tồn tại cùng thời với nó. Tuy nhiên, tư duy cũng có logic phát triển nội tại riêng của nó, đó là sự phản ánh khách quan mang tính đặc thù logic theo cách hiểu riêng gắn với mỗi người điều này thể hiện tính độc lập tương đối của tư duy.
d) Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy Nhu cầu giao tiếp giữa con người với con người là điều kiện để phát sinh ngôn ngữ. Các kết quả của tư duy được ghi lại bằng ngôn ngữ. Từ khi xuất hiện, tư duy đã được thể hiện qua ngôn ngữ và gắn liền với ngôn ngữ, ngôn ngữ là cái vỏ của tư duy. Trong thời kỳ sơ khai, tư duy được hình thành thông qua các hoạt động vật chất của con người và từng bước đã được ghi lại bằng các ký hiệu một cách có hệ thống từ đơn giản đến phức tạp, từ đơn lẻ 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đến tập hợp, từ cái cụ thể đến cái trừu tượng.
Hệ thống ký hiệu đó thông qua quá trình phát triển của xã hội hóa và trở thành ngôn ngữ. Ngôn ngữ đã trở thành công cụ giao tiếp chủ yếu giữa con người với con người, phát triển cùng với sự phát triển của mọi mặt của xã hội.Tư duy và ngôn ngữ có mối quan hệ mật thiết, chúng luôn tác động lẫn nhau và bổ sung cho nhau e) Mối quan hệ giữa nhận thức và tư duy Tư duy là kết quả của quá trình nhận thức và cũng là sự phát triển cấp cao của nhận thức. Nhân thức được khởi nguồn từ những cảm giác, tri giác và biểu tượng. được phản ánh một cách riêng lẻ từ thực tiễn khách quan với những thông tin về hình dạng hiện tượng bên ngoài của sự vật.
Đây là xuất phát điểm của tư duy và được gọi là tư duy cụ thể. Ở giai đoạn tiếp theo, cùng với sự hỗ trợ của ngôn ngữ, tư duy tiến hành so sánh, đối chiếu, phân tích, tổng hợp, quy nạp những thông tin riêng lẻ về sự vật hiện tượng và gắn chúng vào các mối liên hệ phổ biến, lọc bỏ những cái ngẫu nhiên, giữ lại những cái căn bản của sự vật để tìm ra bản chất của sự vật, hiện tượng, khái quát nó thành những khái niệm, phạm trù, định luật. Phân loại tư duy Cho đến nay, ta vẫn chưa có sự thống nhất về phân loại tư duy nhưng có hai cách phân loại tư duy phổ biến sau: a) Phân loại theo các đối tượng của tư duy thì ta có một số loại tư duy sau: - Tư duy kinh tế, - Tư duy chính trị, - Tư duy văn học, - Tư duy toán học… b) Phân loại theo các tính đặc trưng của tư duy thì ta có một số loại tư duy: - Tư duy cụ thể, - Tư duy logic, - Tư duy sáng tạo, - Tư duy biện chứng. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Tư duy sáng tạo. Tư duy sáng tạo Sáng tạo được hiểu theo Từ điển tiếng Việt là sự tạo ra các giá trị mới về vật chất và tinh thần. Tìm ra được cách giải quyết mới của vấn đề đặt ra mà không dựa trên cái đã có sẵn, theo Đại từ điển Tiếng Việt, sáng tạo là làm ra cái mới chưa ai làm, và làm tốt hơn cái cũ mà không bị phụ thuộc hay gò bó bởi cái đã có. Theo Lecne thì có hai kiểu tư duy: Thứ nhất là kiểu tư duy tái hiện hay tái tạo, thứ hai là kiểu tư duy tạo ra cái mới hay sáng tạo.
Tư duy sáng tạo là quá trình tìm kiếm cách nhận thức, phát hiện ra quy luật của sự vật, hiện tượng dẫn đến những tri thức về thế giới hay về phương thức hoạt động mới, cũng như tìm ra nguyên nhân để ngăn chặn và loại bỏ cái xấu, phát triển cái tốt. Như vậy tư duy sáng tạo là một thuộc tính bản chất của con người để tồn tại và phát triển những gì tốt đẹp nhất đồng thời ngăn chặn và loại bỏ những cái chưa tốt với mọi hoạt động của con người. Tư duy sáng tạo có tính phát minh và được phát triển liên tục, kiến thức đã có trước đó được tổng hợp và mở rộng để tạo ra những ý tưởng mới và những ý tưởng mới này luôn chịu sự phân tích, phê phán và tính hiệu quả của chúng được xét đến trong việc giải quyết các vấn đề. Theo tâm lý học tư duy sáng tạo là tư duy mà kết quả tạo ra được một cái gì mới vượt ra khỏi phạm vi giới hạn của hiện thực, của vốn hiểu biết, tri thức và kinh nghiệm đã có, giúp quá trình giải quyết nhiệm vụ của tư duy được linh hoạt và hiệu quả cao nhất.
Có tác giả lại cho rằng: Tư duy sáng tạo là tư duy độc lập tạo ra ý tưởng mới độc đáo, mới lạ và có hiệu quả giải quyết vấn đề cao, ý tưởng mới thể hiện ở chỗ phát hiện ra vấn đề mới hay tìm ra hướng đi mới để giải quyết vấn đề một cách nhanh nhất với kết quả tốt nhất. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Vậy: * Tư duy sáng tạo là tư duy tạo ra những hình ảnh, ý tưởng, sự vật mới và chưa có từ trước đó, độc lập, độc đáo và có hiệu quả giải quyết vấn đề cao hoặc có khuynh hướng phát hiện và giải thích bản chất sự vật theo lối mới, không theo tiền lệ đã có. Một số đặc trưng cơ bản của tư duy sáng tạo a) Tính nhuần nhuyễn Tính nhuần nhuyễn của tư duy là suy luận một cách dễ dàng, thoải mái, tự nhiên trong quá trình suy nghĩ để phát hiện và nhận thức các bản chất của sự vật. Tính nhuần nhuyễn của tư duy được thể hiện ở sự vận dụng các thao tác của tư duy đạt đến mức độ thành thạo nhằm tạo ra một số ý tưởng mới để giải quyết vấn đề một cách nhanh gọn.
Các nhà tâm lý học rất coi trọng yếu tố chất lượng của ý tưởng mới, lấy đó làm tiêu chí để đánh giá sự sáng tạo, xem xét các đối tượng dưới nhiều khía cạnh khác nhau. Mặt khác, tính nhuần nhuyễn còn được thể hiện ở khả năng tìm được nhiều giải pháp trên nhiều tình huống, các góc độ, khía cạnh khác nhau, để từ đó tìm ra phương án tối ưu nhất khi giải quyết vấn đề. Ví dụ: Cho tứ diện đều ABCD cố định M là một điểm bất kỳ nằm trong hình tứ diện. Chứng minh tổng khoảng cách từ điểm M đến tất cả các mặt của hình tứ diện là một số không phụ thuộc vào vị trí của điểm M.
* Khi đứng trước bài toán này, tính nhuần nhuyễn của học sinh có thể được thể hiện như sau: - Liên tưởng đến một bài toán tương tự đã có trong mặt phẳng: “Cho tam giác đều ABC, M là một điểm bất kỳ nằm trong tam giác. CMR tổng khoảng cách từ điểm M đến các cạnh của tam giác là một số không đổi và không phụ thuộc vào vị trí điểm M”.