Chương 1 NGUỒN NHÂN LỰC VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. NGUỒN NHÂN LỰC VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 1. Nguồn nhân lực 1. Quan niệm về nguồn nhân lực Nguồn nhân lực được xem xét dưới hai góc độ: Năng lực xó hội và tính năng động xó hội của con người [11.
Ở góc độ thứ nhất, đó là nguồn cung cấp sức lao động cho xó hội, là bộ phận quan trọng nhất của dõn số, cú khả năng tạo ra mọi giá trị vật chất và tinh thần cho xó hội (của cải vật chất, văn hoá và dịch vụ). Ở góc độ này, về cơ bản, có thể hiểu nguồn lực con người hay nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng của con người (trước hết và cơ bản nhất là tiềm năng lao động) của một quốc gia (một vùng lónh thổ) cú trong một thời kỳ nhất định (có thể tính cho 1 năm, 5 năm hay 10 năm) phù hợp với chiến lược và kế hoạch phát triển. Tiềm năng đó bao hàm tổng hoà năng lực về thể lực, trí lực, nhân cách của con người (lao động) của một quốc gia (một vùng lónh thổ), đáp ứng với một cơ cấu nhất định của con người (lao động) do nền kinh tế - xó hội đũi hỏi. Thực chất đó là tiềm năng của con người về số lượng, chất lượng và cơ cấu.
Toàn bộ tiềm năng đó hỡnh thành năng lực xó hội của con người. Xem xét nguồn nhân lực dưới góc độ tiềm năng của nguồn nhân lực là rất quan trọng vỡ nú cho ta định hướng phát triển nguồn nhân lực như thế nào để đảm bảo không ngừng nâng cao năng lực xó hội của nguồn nhõn lực thụng qua giỏo dục, đào tạo, chăm sóc sức khoẻ,.Đối với từng quốc gia, năng lực xó hội của con người 9 hay tiềm năng của con người là rất khác nhau, nhưng nói chung tiềm năng đó là vô hạn. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại xem xét nguồn nhân lực dưới dạng tiềm năng, thỡ chưa đủ. Vấn đề quan trọng là khai thác tiềm năng đó như thế nào và bằng biện pháp gỡ để biến tiềm năng đó thành hiện thực.
Từ đó, nguồn nhân lực phải được xem xét dưới góc độ thứ 2. Đó là tính năng động xó hội của con người. Nguồn nhân lực ở dạng tiềm năng là ở trạng thái tĩnh, mặc dù nguồn nhân lực lực luôn luôn được phát triển. Nguồn lực đó phải được chuyển sang trạng thái động, tức là được phân bố hợp lý và sử dụng cú hiệu quả.
Ở đây phải làm thế nào để chuyển nguồn nhân lực dưới dạng tiềm năng đó thành “vốn con người - vốn nhân lực - Human Capital”. Điều căn bản nhất ở đây là phải làm thế nào để không ngừng nõng cao tính năng động xó hội của con người, thông qua các chính sách, thể chế và giải pháp giải phóng triệt để tiềm năng con người (trong đó quan trọng nhất là giải phóng sức lao động). Con người với tiềm năng vô tận, nếu được tự do phát triển, tự do tư duy sáng tạo và cống hiến, được đánh giá đúng giá trị lao động, giá trị sáng tạo và cống hiến thỡ tiềm năng vô tận đó của nguồn nhân lực sẽ được khai thác và phát huy, trở thành nguồn vốn vô cùng to lớn. Khai thác tối đa tiềm năng con người, đặc biệt là tiềm năng trớ tuệ và tay nghề là một trong những chỉ bỏo quan trọng phản ỏnh trỡnh độ phát triển của một quốc gia.
Kinh nghiệm các nước, ngay cả các nước phát triển, cho thấy việc khai thác tiềm năng con người cũn rất hạn chế. Như vậy, nguồn lực con người được hiểu là tổng hoà trong thể thống nhất hữu cơ giữa năng lực xó hội của của người (thể lực, trí lực, nhân cách) và tính năng động xó hội của con người. Tính thống nhất đó được thể hiện ở quá trỡnh biến nguồn lực con người thành vốn con người. Có thể biểu diễn mối quan hệ này bằng mụ hỡnh sau: Năng lực xó hội của con người Nguồn Nguồn nhõn vốn nhõn lực Tính năng động xó hội của con người lực 10 Theo quan điểm của Đảng ta: “Nguồn nhân lực bao gồm cả sức lao động, trí tuệ và tinh thần gắn với truyền thống của dân tộc ta” (Bỏo Nhõn dõn, ngày 26/8/1998).
Đó là một quan niệm rất đúng đắn, có cơ sở khoa học và rất khỏi quỏt. Nguồn nhân lực, theo cách tiếp cận mới, có nội hàm rất rộng, bao gồm các yếu tố cấu thành về lực lượng, tri thức, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức, tính năng động xó hội và sức sỏng tạo, truyền thống và lịch sử, nền văn hoá,.Có thể cụ thể hoá và phân loại các yếu tố cấu thành nguồn nhân lực theo các nhóm sau đây: - Quy mô, cơ cấu lao động và sức trẻ của nguồn nhân lực. Nhóm này liên quan đến các vấn đề về lao động tham gia vào quá trỡnh sản xuất kinh doanh của một quốc gia (vựng lónh thổ), hay tổ chức kinh tế,. trong một thời kỳ nhất định.
- Trỡnh độ và chuyên môn kỹ thuật của nguồn nhân lực. Đây là yếu tố cấu thành đặc biệt quan trọng có tính chất quyết định nguồn nhân lực trong tiếp thu, làm chủ và thích nghi với kỹ thuật, cụng nghệ cao và quản lý nền kinh tế tri thức. Nhúm này liờn quan và phụ thuộc vào sự phỏt triển của giỏo dục - đào tạo và dạy nghề của một quốc gia trong điều kiện công nghiệp hoá, hiện đại hóa và hội nhập trong xu thế toàn cầu hoá. - Nhúm yếu tố cấu thành nguồn nhân lực thể hiện ở tính năng động xó hội hội và sức sỏng tạo của con người.
Nhóm này liên quan đến môi trường pháp luật, thể chế và chính sách, cơ chế giải phóng sức lao động, tạo động lực để con người phát triển, phát huy tài năng và sức sáng tạo của mỡnh trong nền kinh tế thị trường định huớng xó hội chủ nghĩa. 11 - Cuối cùng, nhóm yếu tố cấu thành nguồn nhân lực liên quan đến truyền thống lịch sử và nền văn hoá một quốc gia, một tổ chức kinh tế,.Nó bồi đắp và kết tinh trong mỗi con người và cả cộng đồng, hun đúc nên bản lĩnh, ý chớ, tỏc phong của con người trong lao động. Vai trò của nguồn nhõn lực trong phỏt triển kinh tế thị trường Trong thế giới hiện đại, khi chuyển sang nền kinh tế dựa chủ yếu vào tri thức và trong xu thế toàn cầu hoỏ, hội nhập kinh tế quốc tế, chỳng ta ngày càng nhận thức rừ hơn về vai trũ quyết định của nguồn nhân lực trong phát triển. Các lý thuyết tăng trưởng kinh tế gần đây đó chỉ ra rằng, một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh và ở mức cao phải dựa trên ít nhất 3 trụ cột cơ bản là: Áp dụng công nghệ mới, phát triển hạ tầng cơ sở hiện đại và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Trong đó, yếu tố và cũng là động lực quan trọng nhất của sự tăng trưởng kinh tế bền vững chính là con người, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng, tức là con người được đầu tư phát triển, tạo lập kỹ năng, kiến thức, tay nghề, kinh nghiệm, năng lực sáng tạo để trở thành “nguồn vốn - vốn con người, vốn nhân lực”. Bởi vỡ, trong một nền kinh tế toàn cầu đầy biến động và cạnh tranh quyết liệt lúc này ưu thế cạnh tranh nghiêng về các quốc gia có nguồn nhân lực chất lượng cao, môi trường pháp lý thuận lợi cho đầu tư và một xó hội ổn định. Một số nước đang phát triển và phát triển trong khu vực Đông Nam Á (Singapore, Mailaisia) hay Hàn Quốc,. đang điều chỉnh chiến lược cạnh tranh trong tương lai, khi phát triển nền kinh tế tri thức, đó xỏc định phát triển nguồn vốn nhân lực như là yếu tố cạnh tranh cơ bản nhất.
Nếu xem xét dưới góc độ phát triển bền vững, bao gồm tăng trưởng kinh tế, an toàn xó hội và bảo vệ môi trường, thỡ phỏt triển nguồn vốn con người, vốn nhân lực vừa là nguồn lực, vừa là mục tiêu cuối cùng, là đỉnh cao nhất của quá trỡnh phỏt triển ở mỗi quốc gia. Con người ở đây được xem xét trong mối quan hệ thống nhất giữa 2 mặt sau: Một là, con người với tư cách là chủ thể sáng tạo ra mọi của cải vật chất và tinh thần. Trong quá trình tồn tại và phát triển, con người bằng sức lao động 12 của mỡnh, là yếu tố, là lực lượng sản xuất cơ bản nhất của quá trỡnh sản xuất (yếu tố CUNG). Hai là, con người, mặt khác lại là người sử dụng và tiêu dùng của cải vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển thông qua quá trỡnh phõn phối, tỏi phõn phối (yếu tố CẦU).
Giữa CUNG và CẦU luụn luụn cú mối quan hệ với nhau. Nú tồn tại, thống nhất và phỏt triển trong một thực thể con người và trong mối quan hệ với cộng đồng, xó hội. Từ đó, phát triển nguồn nhân lực trở thành nhu cầu trước tiên, nhu cầu cơ bản nhất và là trung tâm của mọi quá trỡnh phỏt triển. Nhu cầu đó nếu được đáp ứng sẽ trở thành động lực to lớn và nguồn lực nội sinh vô hạn quyết định thúc đẩy phát triển xó hội.
Ngược lại, nhu cầu phát triển nguồn nhân lực không được định hướng đúng thỡ ý nghĩa phủ định của nó cũng rất lớn, có thể làm cản trở, làm trỡ trệ, thậm chớ trở thành lực lượng tàn phá, dẫn đến đảo lộn, tan ró một xó hội, tổ chức kinh tế. Thực tế này thấy rất rừ ở mụ hỡnh tăng trưởng kinh tế ở nhiều nước trên thế giới và trong khu vực. Đồng thời, cũng chứng minh từ thực tế Việt Nam qua gần 20 năm đổi mới. Khi chuyển sang cơ chế thị trường, Nhà nước đó cú nhiều chớnh sỏch phỏt huy mọi nguồn lực, nhất là nội lực nguồn nhõn lực, lao động lành nghề, lao động chất xám tạo ra sản phẩm có hàm lượng trí tuệ cao đó gúp phần tăng trưởng kinh tế nước ta ở mức cao và ổn định, nhiều sản phẩm có sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và xuất khẩu.
Chớnh vỡ vậy, ngay khi khởi xướng công cuộc đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đó nhấn mạnh tầm quan trọng đặc biệt của yếu tố con người và xác định: “Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển” (Nghị quyết Đại hội VII Đảng Cộng sản Việt Nam). Nghị quyết Đại hội Đảng VIII cũng nhấn mạnh “Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững”.