phần Mở đầu; Kết luận và khuyến nghị; Tài liệu tham khảo; phụ lục, luận văn bao gồm các chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài Chƣơng 2: Tổ chức dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại theo hƣớng phát triển năng lực tự học cho học sinh lớp 12 - Trung học phổ thông Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Tự học và năng lực tự học 1. Khái niệm tự học , năng lực, năng lực tự học Khái niệm tự học Tự học là một nội dung vừa có tính truyền thống vừa có tính thời sự phổ biến không chỉ ở nƣớc ta mà còn là vấn đề của nhiều nƣớc. Ngay từ xa xƣa, Khổng Tử đã ý thức đƣợc tầm quan trọng của việc tự học đối với mỗi con ngƣời.
Theo ông học không chỉ ở trƣờng mà còn học ở bạn bè, học ở mọi nơi mọi chổ, học ở mọi ngƣời bằng ý chí và nghị lực và niềm say mê là cách tự học của Khổng Tử. Ông đã chỉnh lý một số sách cổ kinh điển của nho gia nhƣ: Kinh thi, Kinh thƣ, Kinh lễ,… Có đƣợc thành tựu này là do ông luôn có tinh thần tự học hỏi, tự bồi dƣỡng và quan trọng hơn là ông biết cách tự học. Hồ Chí Minh là tấm gƣơng về tự học. Bác viết “học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời.
Suốt đời phải gắn liền lý luận với công tác thực tiễn. Không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, đã biết hết rồi. Thế giới ngày càng đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ, cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân”(Bài nói chuyện tại lớp nghiên cứu chính trị khóa I, Trƣờng Đại học Nhân dân Việt Nam 21. Hồ Chí Minh khẳng định tự học chính là sự nổ lực của bản thân ngƣời học, sự làm việc của bản thân ngƣời học một cách có kế hoạch trên tinh thần tự động học tập.
Bàn về khái niệm tự học, Nguyễn Kỳ cho rằng: “Tự học là ngƣời học tích cực chủ động, tự mình tìm ra tri thức kinh nghiệm bằng hành động của mình, tự thể hiện mình. Tự học là tự đặt mình vào tình huống học, vào vị trí 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nghiên cứu, xử lí các tình huống, giải quyết các vấn đề, thử nghiệm các giải pháp…Tự học thuộc quá trình cá nhân hóa việc học” [36-24]. Tác giả Nguyễn Thị Tính cho rằng: “Tự học là một quá trình, trong đó dƣới vai trò chủ đạo của GV, ngƣời học tự mình chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, thông qua các hoạt động trí tuệ (quan sát, phân tích, tổng hợp, so sánh phán đoán …) và cả các hoạt động thực hành (khi phải sử dụng các thiết bị đồ dùng học tập). Tự học gắn liền với động cơ, tình cảm và ý chí… của ngƣời học để vƣợt qua chƣớng ngại vật hay vật cản trong học tập nhằm tích lũy kiến thức cho bản thân ngƣời học từ kho tàng tri thức của nhân loại, biến những kinh nghiệm này thành kinh nghiệm và vốn sống của bản thân ngƣời học”[53-41].
Phan Trọng Luân cho rằng “học là công việc của cá nhân. Học là công việc của bản thân ngƣời học” [41-8]. Ông cho rằng một trong các mục đích quan trọng của dạy học là dạy cách học. Thái Duy Tuyên cho rằng: “Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp…)cùng các phẩm chất động cơ, tình cảm để chiếm lĩnh tri thức một lĩnh vực hiểu biết nào đó hay những kinh nghiệm lịch sử, xã hội của nhân loại, biến nó thành sở hữu của chính bản thân ngƣời học” [61-31].
Trần Phƣơng trong bài phát biểu tại hội thảo Nâng cao chất lƣợng dạy học tổ chức vào tháng 11 năm 2005 tại Đại học Huế, cho rằng: “Học bao giờ và lúc nào cũng chủ yếu là tự học, tức là biến kiến thức khoa học tích lũy từ nhiều thế hệ của nhân loại thành kiến thức của mình, tự cải tạo tƣ duy của mình và rèn luyện cho mình kĩ năng thực hành những tri thức ấy”. Trần Bá Hoành thì coi: “Tự học là ngƣời học tích cực chủ động, tự mình tìm ra tri thức kinh nghiệm bằng hành động của mình, tự thể hiện mình. Tự học là tự đặt mình vào tình huống học, vào vị trí nghiên cứu, xử lí các tình huống, giải quyết các vấn đề, thử nghiệm các giải pháp…Tự học thuộc quá 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trình cá nhân hóa việc học” [27-51]. Nguyễn Cảnh Toàn thì định nghĩa: “Tự học (self learning) là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp,.) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (nhƣ trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý chí muốn thi đỗ, biến khó khăn thành thuận lợi) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình” [58-407].
Trên thế giới khái niệm tự học cũng đƣợc tập trung nghiên cứu từ cuối thế kỉ XX. Tác giả Candy (1987) đã xác định có ít nhất 30 khái niệm khác nhau đƣợc sử dụng đồng nghĩa với khái niệm tự học. Ví dụ, ông liệt kê ra tự học, học tập độc lập, ngƣời học tự kiểm soát, hƣớng dẫn bản thân, học tập phi truyền thống, học tập mở, tham gia học tập, tự học, tự giáo dục, học tập tự tổ chức, tự học theo kế hoạch, tự chịu trách nhiệm về việc học, tự học và tự dạy… Trong quá trình nghiên cứu về tự học, một số tác giả đi đến thống nhất: có hai phƣơng diện liên quan đến tự học đó là tính cách của ngƣời học và phƣơng pháp học tập. Đặc điểm tính cách hay "tính tự định hƣớng của ngƣời học" thuộc về bản chất của ngƣời học và là những đặc trƣng cá nhân cho phép họ thể hiện "mong muốn chịu trách nhiệm với việc học".
Đây là đặc điểm bên trong. Phƣơng pháp học tập là một đặc điểm bên ngoài nói đến "một quá trình mà trong đó ngƣời học có vai trò chính trong việc lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá các trải nghiệm" (Brockett 11 & Hiemstra). Với Brockett & Hiemstra, hai phƣơng diện này có mối quan hệ biện chứng và cùng nhau dẫn đến "tự học". Từ các quan niệm trên, chúng tôi cho rằng: tự học là một quá trình học tập độc lập, chủ động, tích cực của ngƣời học trong việc chiếm lĩnh tri thức 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com khoa học, cũng nhƣ những kiến thức trong cuộc sống hằng ngày.
Nó có thể đƣợc cá nhân ngƣời học tiến hành ở trên lớp hay ngoài lớp học. Khái niệm năng lực Năng lực (competency) có nguồn gốc tiếng La tinh “competentia”. Ngày nay khái niệm năng lực đƣợc hiểu nhiều nghĩa khác nhau. Nguyễn Văn Tuấn (ĐHSP kĩ thuật TP Hồ Chí Minh) trong chuyên đề “Tài liệu học tập về phƣơng pháp dạy học theo hƣớng tích hợp” thì: Năng lực là một thuộc tính tâm lý phức hợp, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố nhƣ tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm.
Cấu trúc của năng lực bao gồm: Năng lực chuyên môn (Professional competency), năng lực phƣơng pháp (Methodical competency), năng lực xã hội (Social competency), năng lực cá thể (Induvidual competency) và đƣợc thể hiện cụ thể nhƣ sau: Bảng 1.1: Cấu trúc năng lực Học nội dung Học phƣơng Học giao tiếp xã Học tự trải chuyên môn pháp chiến lƣợc hội nghiệm đánh giá - Các tri thức -Lập kế hoạch - Làm việc trong - Tự đánh giá chuyên môn học tập, kế hoạch nhóm. điểm mạnh, điểm - Các kĩ năng làm việc - Tạo điều kiện yếu. chuyên môn - Các phƣơng cho sự hiểu biết - Xây dựng kế -Ứng dụng, đánh pháp nhận thức về xã hội. hoạch phát triển giá chuyên môn chung: thu thập, - Học cách ứng cá nhân.
xử lý, đánh giá, xử, tinh thần - Đánh giá, hình trình bày thông trách nhiệm, khả thành các chuẩn 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. năng giải quyết mực giá trị, đạo - Các phƣơng xung đột đức và văn hóa, pháp chuyên … môn Phát triển Năng Phát triển Năng Phát triển Năng Phát triển Năng lực chuyên môn lực phƣơng pháp lực xã hội lực nhân cách PGS. Đỗ Ngọc Thống trong bài “Đổi mới đánh giá kết quả học tập môn Ngữ Văn theo yêu cầu phát triển năng lực ” đã chỉ ra rằng: Tuy cách phát biểu về năng lực có thể khác nhau nhƣng đều thống nhất trong cách hiểu về bản chất của khái niệm này: Năng lực là sự vận dụng tổng hợp nhiều yếu tố: kiến thức, kĩ năng, thái độ, tình cảm, ý chí , kinh nghiệm và nhiều nguồn lực tinh thần khác để giải quyết một cách hiệu quả các vấn đề đặt ra trong cuộc sống. Năng lực tự học Nguyễn Kì cho rằng, năng lực tự học, tự nghiên cứu là một khả năng tiềm ẩn của mỗi con ngƣời.
“Năng lực tự học là tổng thể các năng lực cá thể, năng lực chuyên môn, năng lực phƣơng pháp và năng lực xã hội của ngƣời học tác động đến nội dung học trong những tình huống cụ thể nhằm đạt mục tiêu (bằng khả năng trí tuệ và vật chất, thái độ, động cơ, ý chí v. của ngƣời học) chiếm lĩnh tri thức kĩ năng”. Phân biệt năng lực tự học với kĩ năng tự học Kĩ năng tự học Nguyễn Thị Bích Hà trong luận án “Biện pháp hoàn thiện kĩ năng tự học 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com môn Giáo dục học cho sinh viên Đại học Sƣ phạm theo quan điểm sƣ phạm tƣơng tác” đã cho rằng: kĩ năng tự học là khả năng thực hiện có kết quả hoạt động tự học đúng nhƣ những hiểu biết về hoạt động tự học và về kĩ năng tự học mà ngƣời học đã đƣợc lĩnh hội trong hoạt động dạy học. Qua nghiên cứu, chúng tôi cho rằng: Kĩ năng tự học là khả năng thực hiện có kết quả một hay một nhóm hành động tự học bằng cách vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều kiện cho phép.