Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quyền SHTT và góp vốn bằng quyền SHTT; - Chương 2: Pháp luật Việt Nam về góp vốn bằng quyền SHTT; - Chương 3: Thực trạng hoạt động góp vốn bằng quyền SHTT ở Việt Nam và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về góp vốn bằng quyền SHTT. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ VÀ GÓP VỐN BẰNG QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ 1. Khái quát chung về quyền sở hữu trí tuệ 1.1 Khái niệm quyền sở hữu trí tuệ Trước thập niên 90, khái niệm “tài sản” được nhiều người biết đến chỉ bao gồm tiền và vật chất. Trong nền kinh tế hiện đại, nhiều quốc gia nhất là quốc gia phát triển đang hướng đến một nền kinh tế dựa trên trí thức, vì thế khái niệm “tài sản” được mở rộng không chỉ là tiền, vàng, nhà xưởng, phương tiện… mà còn là những TSVH, trong đó có TSTT.
Theo nghĩa thông dụng, TSTT được hiểu là tất cả các sản phẩm của hoạt động trí tuệ: các ý tưởng, các tác phẩm sáng tạo văn học, nghệ thuật, các công trình khoa học, các sáng chế, phần mềm máy tính…TSTT là một dạng của TSVH. Quyền SHTT được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực dân sự, kinh tế - thương mại – đầu tư, hành chính, hình sự - dùng để chỉ quyền của chủ thể đối với TSTT. Theo tổ chức SHTT thế giới (WIPO) thì “quyền sở hữu trí tuệ bao gồm các quyền liên quan tới các tác phẩm khoa học, nghệ thuật và văn học; chương trình biểu diễn của các nghệ sĩ, các bản ghi âm và chương trình phát thanh, truyền hình; sáng chế trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của con người; các phát minh khoa học; các kiểu dáng công nghiệp; các nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hiệu dịch vụ, các chỉ dẫn và tên thương mại; bảo hộ chống cạnh tranh không lành mạnh và tất cả các quyền khác là kết quả của hoạt động trí tuệ trong lĩnh vực công nghiệp, khoa học, văn học hoặc nghệ thuật”. Tại Việt Nam, quyền SHTT được định nghĩa theo Bộ luật dân sự 2005 (một cách gián tiếp) và theo Luật sở hữu trí tuệ 2005 (một cách trực tiếp) như sau: “là quyền của tổ chức, cá nhân đối với TSTT, bao gồm: quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghệp và quyền đối 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com với giống cây trồng”.
Trong đó: “Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu”; “quyền liên quan đến quyền tác giả (quyền liên quan) là quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình đã được mã hoá”; “quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành; “quyền đối với giống cây trồng là quyền của tổ chức, cá nhân đối với giống cây trồng mới do mình chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển hoặc được hưởng quyền sở hữu”. Như vậy, quyền SHTT tại Việt Nam được hiểu gồm: (i) quyền tác giả; (ii) quyền liên quan (đến quyền tác giả); (iii) quyền sở hữu công nghiệp và (iv) quyền đối với giống cây trồng. Không phải nước nào cũng phân chia quyền SHTT như vậy. Chẳng hạn, tại nhiều nước và trong nhiều khuôn khổ (Châu Âu, Tổ chức Thương mại thế giới – WTO, Nhật Bản) có sử dụng khái niệm “quyền sở hữu công nghiệp” và coi quyền đối với giống cây trồng cũng là một bộ phận của quyền sở hữu công nghiệp.
Qua đây, có thể thấy rằng, quyền SHTT là quyền mà nhà nước dành cho các cá nhân, tổ chức là chủ sở hữu TSTT được kiểm soát độc quyền TSTT trong một thời hạn nhất định nhằm ngăn chặn sự khai thác các tài sản này một cách bất hợp pháp. Theo Luật SHTT năm 2005 quy định: “Quyền SHTT là quyền của các tổ chức, cá nhân đối với TSTT, bao gồm: quyền tác giả, quyền liên quan đến tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng”. Các đối tượng TSTT được khái quát bao gồm: 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ Quyền tác giả Quyền liên quan Quyền sở hữu Quyền đối với giống công nghiệp cây trồng - Tác phẩm văn - Cuộc biểu - Sáng chế Giống cây trồng mới học diễn, trình diễn - Kiểu dáng công - Tác phẩm - Bản ghi âm, nghiệp nghệ thuật ghi hình - Thiết kế bố trí - Tác phẩm - Chương trình mạch tích hợp bán khoa học phát sóng dẫn - Phần mềm - Tín hiệu vệ - Bí mật kinh doanh máy tính tinh mang - Nhãn hiệu - Cơ sở dữ liệu chương trình - Tên thương mại được mã hóa - Chỉ dẫn địa lý 1. Đặc điểm của quyền sở hữu trí tuệ Quyền SHTT là quyền sở hữu đối với TSTT - một dạng của TSVH.
Do đó đặc điểm của TSTT có đầy đủ các đặc điểm cơ bản của dạng tài sản cố định vô hình cụ thể như sau: - Tính vô hình: TSTT tồn tại chủ yếu dưới dạng thông tin, tri thức, do đó khó nhận thức sự tồn tại của tài sản này bằng giác quan của con người mà chỉ bằng nhận thức. TSTT thường được hiện thực khi áp dụng để sản xuất hay gắn lên các hàng hóa, dịch vụ trong quá trình sản xuất kinh doanh. - Tính xác định: TSTT là loại TSVH có khả năng nhận diện được. TSTT thường được thể hiện dưới những hình thức vật chất xác định (bản mô tả, công thức, hình vẽ…), do đó con người có khả năng nhận biết, khả năng lan truyền không có giới hạn và có thể do nhiều người cùng chiếm hữu.
Đồng thời, mỗi TSTT là một đối tượng tồn tại độc lập, có nội dung xác định, có chức năng, công dụng, giá trị xác định. Một TSTT có thể xác định riêng biệt khi doanh nghiệp có thể đem tài sản đó cho thuê, góp vốn, bán, trao đổi hoặc thu được lợi ích kinh tế cụ thể trong tương lai. Những tài sản chỉ tạo ra lợi ích 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com kinh tế trong tương lai khi kết hợp với các tài sản khác nhưng vẫn được coi là tài sản có thể xác định riêng biệt nếu doanh nghiệp xác định được chắc chắn lợi ích kinh tế trong tương lai do tài sản đó đem lại. - Khả năng bị kiểm soát: Do TSTT có khả năng được vật chất hóa nên trở thành đối tượng chịu sự tác động có chủ đích của con người, như điều khiển, sản xuất, khai thác, sử dụng, mua bán, trao đổi, cho thuê, góp vốn… nhằm mang lại kết quả nhất định, trong đó quan trọng nhất là tạo ra giá trị.
Doanh nghiệp nắm quyền kiểm soát một TSTT nếu doanh nghiệp có quyền thu lợi ích kinh tế trong tương lai mà tài sản đó đem lại, đồng thời cũng có khả năng hạn chế sự tiếp cận của các đối tượng khác đối với lợi ích đó. - Đặc tính sinh lợi: TSTT đều có khả năng sinh lợi (tạo ra giá trị), nghĩa là khi được khai thác, sử dụng, bán, cho thuê, trao đổi. thì TSTT có khả năng mang lại thu nhập bằng tiền hoặc tài sản khác cho người kiểm soát tài sản đó. Bên cạnh đó, TSTT còn có đặc điểm riêng, phân biệt với các dạng tài sản cố định vô hình khác ở tính sáng tạo, đổi mới.
- Tính sáng tạo, đổi mới: TSTT là kết quả của hoạt động tư duy sáng tạo, là sự đổi mới dựa trên những tri thức hiện có. Đó là kết quả của những cải tiến có sáng tạo từ cái đã hoạt động trong quá khứ, hoặc những thể hiện mới có sáng tạo của những ý tưởng và quan niệm cũ. Sự phát triển không giới hạn của TSTT là do chính đặc tính sáng tạo, đổi mới tạo nên. Xuất phát từ những đặc tính nêu trên của TSTT nên trong mối tương quan với quyền sở hữu của các TSHH, quyền SHTT có những điểm đặc trưng nhất định cụ thể như sau: Thứ nhất, quyền SHTT là quyền sở hữu đối với một TSVH.
Nếu đối tượng của quyền sở hữu các TSHH đó là những hiện vật, sản phẩm mà con người có thể cầm, nắm được thì đối tượng của quyền SHTT là các TSVH mà con người không thể cầm, nắm, giữ chặt trong tay được. Đó là những thành quả do trí tuệ con người tạo ra và nó không tồn tại dưới dạng vật chất nhất định. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thứ hai, căn cứ phát sinh và xác lập quyền đối với quyền SHTT khác với các TSHH khác. Quyền sở hữu đối với các TSHH là thời điểm chủ sở hữu xác lập việc chiếm hữu hợp pháp đối với tài sản đó.
Theo quy định của Bộ luật Dân sự, căn cứ xác lập quyền sở hữu gồm: do lao động, do hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp, được chuyển quyền sở hữu theo thỏa thuận hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; thu hoa lợi, lợi tức; tạo thành vật mới do trộn lẫn, sáp nhập, chế biến; được thừa kế tài sản; chiếm hữu trong các điều kiện do pháp luật quy định đối với vật vô chủ, vật bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn dấu, gia súc, gia cầm bị thất lạc, vật nuôi dưới nước di chuyển tự nhiên; chiếm giữ tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai phù hợp với thời hiệu theo quy định pháp luật [6, Điều 170]. Tuy nhiên, quyền SHTT được tạo ra bởi trí tuệ của con người hoặc những hoạt động do cảm hứng. Đây là hoạt động riêng biệt, có ý thức và sáng tạo. Với đặc thù của hoạt động sáng tạo nên quyền SHTT được nhà nước bảo hộ.
Do đó, căn cứ phát sinh và xác lập quyền đối với quyền SHTT hầu hết là khi tiến hành thủ tục đăng ký bảo hộ hoặc nhận chuyển nhượng, thừa kế từ chủ SHTT. Tuy nhiên, có một số trường hợp ngoại lệ đối với quyền tác giả và quyền liên quan; quyền đối với bí mật kinh doanh; quyền đối với tên thương mại thì việc phát sinh và xác lập quyền khi đáp ứng đầy đủ điều kiện của pháp luật mà không cần tiến hành thủ tục đăng ký bảo hộ. Thứ ba, việc thực hiện quyền chiếm hữu của chủ sở hữu quyền SHTT khác với các TSHH.