Chương 1 CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ MÔI GIỚI KẾT HÔN CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁP LUẬT VỀ MÔI GIỚI KẾT HÔN CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI. Khái niệm pháp luật điều chỉnh quan hệ Môi giới kết hôn có yếu tố nƣớc ngoài Kết hôn là quyền cơ bản của con người, pháp luật các quốc gia đều ghi nhận: mỗi người đều có quyền lựa chọn, quyết định hạnh phúc và người bạn đời riêng cho mình. Quyền tự kết hôn thể hiện ở chỗ con người có quyền tự do kết hôn với người cùng dân tộc hoặc với người không cùng dân tộc; với người cùng tôn giáo hoặc không cùng tôn giáo; với người cùng quốc tịch hoặc không cùng quốc tịch.
Pháp luật các nước đều tôn trọng và bảo vệ quyền tự do kết hôn của con người. Để hỗ trợ, tạo cầu nối cho con người thực hiện quyền kết hôn một cách trọn vẹn, đầy đủ hơn; giúp những người có nhu cầu kết hôn có nhiều sự lựa chọn cũng như có đầy đủ thông tin trước khi quyết định lựa chọn đối tượng để kết hôn cho mình thì không thể thiếu vai trò của MGKH. Vậy, thế nào là MGKH? Để trả lời cho câu hỏi này, trước hết chúng ta cùng tìm hiểu nghĩa của 02 từ: "mai mối" và "môi giới". Theo Từ điển tiếng Việt, "mai mối" và "môi giới" đều có nghĩa là Người trung gian [36].
Tuy nhiên, mai mối là hoạt động trung gian cho hai bên trai gái gặp gỡ với mục đích tiến tới hôn nhân. Cũng diễn tả về hành vi này còn có từ "làm mai" và "làm mối". Làm mai là "đứng trung gian trong việc hôn phối". Còn làm mối là "đứng giữa làm môi giới cho hai bên trai gái" [36].
Ngoài ra, còn có diễn giải khác đó là: Làm mối hay còn gọi là làm mai là việc đóng vai trò trung gian để thu xếp nhằm tiến tới một cuộc hôn nhân. Người làm mối gọi là ông mối, bà 14 mối hay từ cổ là băng nhân. Làm mối là khâu quan trọng trong quá trình kết hôn theo phong tục Việt Nam thời phong kiến và có nguồn gốc từ văn hóa Trung Quốc [48]. Khác với "mai mối", "môi giới" thường được dùng nhiều trong hoạt động thương mại.
Môi giới là "Người làm trung gian để cho hai bên tiếp xúc, giao thiệp với nhau" [47]. Người môi giới là "loại thương nhân trung gian giữa người mua và người bán, được người bán hoặc người mua ủy thác tiến hành bán hoặc mua hàng hóa hay dịch vụ" [48]. Còn Kết hôn là viÖc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn. Từ các khái niệm trên, tác giả đưa ra định nghĩa về MGKH: MGKH là một loại hình dịch vụ, trong đó Người cung cấp dịch vụ MGKH đóng vai trò trung gian giới thiệu cho những người có nhu cầu tìm kiếm đối tượng kết hôn gặp gỡ, tìm hiểu nhau tiến tới hôn nhân.
Khách hàng phải trả phí khi tham gia dịch vụ này. MGKH có những đặc điểm chính sau: Là hoạt động làm trung gian tạo điều kiện cho hai bên nam giới và phụ nữ tiếp xúc, tìm hiểu nhau. Người MGKH có thể là cá nhân hoặc tổ chức. Người sử dụng dịch vụ MGKH là cá nhân.
Mục đích của dịch vụ MGKH là tiến tới kết hôn. Hiện nay, MGKH nói chung và MGKH với người nước ngoài luôn có tính hai mặt. Mặt tích cực là tạo điều kiện cho hai bên có điều kiện làm quen, tiếp xúc và tìm hiểu nhân thân của nhau. Đó cũng là những yếu tố cần thiết để hình thành giai đoạn tiền hôn nhân, nhất là trong xã hội công nghiệp.
Nhiều người đã tìm được bạn đời qua những hình ảnh và thông tin của các dịch vụ môi giới. Nhưng tính trung thực của các loại thông tin này (hình ảnh, số liệu,.) không phải lúc nào cũng đáng tin cậy. Mặt trái của MGKH có yếu tố 15 nước ngoài là áp đặt, cung cấp thông tin sai lệch và kiếm lời. Họ tìm mọi cách để thành công với mục đích kiếm được tiền, bất kể cả việc cung cấp thông tin sai, lừa dối đôi bên dẫn đến hậu quả khôn lường, làm nhiều gia đình tan vỡ, trong đó chịu thiệt thòi hơn cả là người phụ nữ.
Nhiều vấn đề thuộc hành vi, văn hóa, lối sống không được cung cấp đầy đủ và trung thực. Mặt khác, chuyện "kết tóc xe duyên" của đôi bên trong trường hợp này cần có cơ quan tư vấn chuyên nghiệp và cần tính đến những rủi ro trước khi đi đến quyết định. Chính vì vậy, cần có các tổ chức MGKH hợp pháp, đáng tin cậy và nguyên tắc đầu tiên phải là cung cấp đầy đủ thông tin cần thiết để khách hàng có cơ sở tin cậy cùng với gia đình đưa ra quyết định đúng đắn cho cuộc hôn nhân của mình. Vậy, thế nào là một dịch vụ MGKH có yếu tố nước ngoài đáng tin cậy? Không có câu trả lời chính xác tuyệt đối cho vấn đề này.
Tuy nhiên, vẫn có những đặc điểm chung nhất để nhận biết một dịch vụ MGKH có yếu tố nước ngoài đáng tin cậy, đó là: Dịch vụ này phải được cung cấp bởi một công ty, tổ chức có đăng ký hợp pháp theo quy định của nước sở tại nơi công ty, tổ chức đó có trụ sở; cam kết chịu trách nhiệm về tính trung thực, đầy đủ, toàn vẹn của thông tin cung cấp; tuyệt đối giữ bí mật thông tin của khách hàng… Trong nhà nước pháp quyền, pháp luật chính là công cụ hữu hiệu nhất để quản lý, định hướng xã hội. Có nhiều ý kiến khác nhau xung quanh vấn đề MGKH có yếu tố nước ngoài, tóm lược lại có hai luồng quan điểm chính: Một là, tuyệt đối cấm hoạt động MGKH có yếu tố nước ngoài dưới mọi hình thức. Hai là, thừa nhận hoạt động MGKH có yếu tố nước ngoài là hoạt động hợp pháp và có cơ chế phù hợp để quản lý chặt chẽ hoạt động này. Hiện quan điểm thứ hai đang được đại đa số các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý ủng hộ, tác giả cũng nhất trí với quan điểm đó.
Theo quy định tại Điều 758, Bộ luật Dân sự năm 2005, quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là: (i) Ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; (ii) giữa các 16 bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài; (iii) tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài [31]. Căn cứ vào định nghĩa về MGKH cũng như các đặc điểm của MGKH, tác giả đưa ra định nghĩa về quan hệ MGKH có yếu tố nước ngoài như sau: (i) Ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người của nước đó nhưng định cư ở nước ngoài; (ii) giữa các bên tham gia là công dân, tổ chức của một nước nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài; (iii) tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài. Trên cơ sở phân tích các khái niệm về MGKH và quan hệ MGKH có yếu tố nước ngoài, tác giả đưa ra định nghĩa về Pháp luật điều chỉnh quan hệ MGKH có yếu tố nước ngoài như sau: Pháp luật điều chỉnh quan hệ MGKH có yếu tố nước ngoài là tổng hợp các nguyên tắc, các quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh quan hệ MGKH giữa các bên chủ thể khác quốc tịch; sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ MGKH ở nước ngoài; hoặc tài sản liên quan tới quan hệ MGKH ở nước ngoài. Hiện nay, Việt Nam chưa có bất kỳ đạo luật chuyên biệt nào quy định về MGKH nói chung và MGKH có yếu tố nước ngoài nói riêng.
Hoạt động MGKH nhằm mục đích kiếm lời bị nghiêm cấm dưới mọi hình thức. Pháp luật Việt Nam chỉ khuyến khích các hoạt động hỗ trợ kết hôn có yếu tố nước ngoài hoạt động phi lợi nhuận để tư vấn, hướng dẫn các hoạt động liên quan đến hôn nhân có yếu tố nước ngoài. Hôn nhân có yếu tố nước ngoài là một xu thế tất yếu trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay và là một vấn đề bình thường trong quá trình phát triển, giao lưu và hội nhập kinh tế, văn hóa. Và MGKH chính là nhân tố góp phần thúc đẩy hôn nhân có yếu tố nước ngoài phát triển một lành mạnh hơn.
Trong thế giới toàn cầu hóa, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ đã giúp cho tất cả nhân loại như cùng sống dưới một mái nhà 17 chung, khoảng cách địa lý bị thu hẹp lại nhưng mặt trái của tiến bộ khoa học, công nghệ lại chính là biến con người ngày càng lệ thuộc nhiều vào máy móc, tất cả mọi hoạt động của con người gần như là một chu trình khép kín. MGKH góp phần giải quyết các vấn đề xã hội như: giải quyết sự mất cân bằng về giới, tạo điều kiện thuận lợi cho những cuộc di dân từ nơi có điều kiện kinh tế- xã hội chưa phát triển đến những vùng kinh tế - xã hội phát triển hơn; thúc đẩy giao lưu giữa các nền văn hóa; tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế. Từ những cơ sở lý luận về MGKH có yếu tố nước ngoài, thiết nghĩ, đã đến lúc các nhà lập pháp Việt Nam cần xem xét lại việc nên hay không nên thừa nhận hoạt động MGKH có yếu tố nước ngoài là hoạt động hợp pháp để từ đó ban hành quy định pháp lý phù hợp để điều chỉnh hoạt động này. Vai trò của Môi giới kết hôn có yếu tố nƣớc ngoài trong xã hội hiện đại Hôn nhân là hiện tượng xã hội xuất hiện rất sớm từ khi hình thành xã hội loài người.
Không có tộc người nào trên thế giới lại không coi trọng vấn đề HN&GĐ. Hôn nhân không chỉ thuần túy là sự kết hợp giới tính mà còn qua hôn nhân thể hiện những sắc thái văn hóa của một tộc người. Hôn nhân có vai trò quan trọng tái sản xuất dân cư và góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống. Hôn nhân xuyên quốc gia hay hôn nhân có yếu tố nước ngoài xét trên bình diện thế giới và ngay cả ở Việt Nam không phải là một hiện tượng mới.