phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được kết cấu thành ba chương với nội dung cơ bản như sau: Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận chung về đầu tư ra nước ngoài và pháp luật về hình thức đầu tư ra nước ngoài. Chƣơng 2: Thực trạng pháp luật về hình thức đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam. Chƣơng 3: Phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về hình thức đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam. 1 Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƢ RA NƢỚC NGOÀI VÀ PHÁP LUẬT VỀ HÌNH THỨC ĐẦU TƢ RA NƢỚC NGOÀI 1.
NHU CẦU VỀ ĐẦU TƢ RA NƢỚC NGOÀI CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 1. Nguyên nhân thúc đẩy hoạt động đầu tƣ ra nƣớc ngoài trên thế giới Xu hướng toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới đang đặt ra cho mỗi quốc gia những yêu cầu và thách thức trong việc tiếp cận và hội nhập vào chu trình sản xuất và kinh doanh toàn cầu. Tiếp cận kinh doanh quốc tế vừa là cơ hội vừa là thách thức đối với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam để phát triển nền sản xuất trong nước, thu hẹp khoảng cách phát triển với các quốc gia phát triển trên thế giới và trong khu vực. Hướng tới các nguồn lực từ bên ngoài quốc gia đã và đang trở thành chiến lược phát triển kinh tế của nhiều quốc gia đang phát triển nhằm cải thiện lực lượng sản xuất trong nước thông qua việc thu hút vốn và kỹ thuật từ nước ngoài, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm và thị trường cung cấp nguyên vật liệu ra nước ngoài, khai thác tối đa lợi thế thương mại của quốc gia trong quan hệ thương mại quốc tế.
Lý luận về đầu tư quốc tế được dựa trên học thuyết về phân công lao động quốc tế dựa trên lợi thế so sánh và thương mại quốc tế được phát triển bởi Adam Smith (1776) và David Ricardo (1817), theo đó mỗi quốc gia trên thế giới đều chuyên môn hóa sản xuất ra một hoặc một nhóm sản phẩm với chi phí sản xuất thấp hơn so với quốc gia khác và tiến hành xuất khẩu hàng hóa này sang quốc gia đó. Lợi thế so sánh chính là cơ sở hình thành, phát triển quan hệ thương mại quốc tế giữa các quốc gia. Sự chênh lệch về lực lượng 2 sản xuất giữa các quốc gia và những trở ngại trong hoạt động thương mại quốc tế đã hình thành và phát triển quan hệ đầu tư giữa các quốc gia [25, tr. Đầu tư quốc tế không chỉ đáp ứng yêu cầu của quốc gia đầu tư nhằm tìm kiếm cơ hội tối đa hóa lợi nhuận ở các quốc gia khác nơi có chi phí sản xuất thấp để tránh tình trạng tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư thấp do mức độ cạnh tranh gay gắt trong nước mà còn đáp ứng được yêu cầu của quốc gia nhận đầu tư nhằm phát triển những ngành sản xuất có lợi thế thương mại nhưng chưa hội tụ đủ các điều kiện về vốn và kỹ thuật.
Với sự phát triển ở trình độ cao của hoạt động thương mại quốc tế hiện nay bên cạnh mục tiêu khai thác lợi thế thương mại của các quốc gia có chi phí sản xuất thấp, ngày càng có nhiều nguyên nhân buộc doanh nghiệp trong nước phải cân nhắc đến quyết định đầu tư ra nước ngoài. Nhà đầu tư quyết định đưa hoạt động sản xuất của mình ra nước ngoài có thể do không cạnh tranh được tại thị trường nội địa hoặc có thể đơn giản là do sự hạn chế của Chính phủ đối với mở rộng quy mô kinh doanh trên thị trường nội địa. Ví dụ điển hình là trường hợp của tập đoàn SK Telecom Hàn Quốc hiện đang chiếm lĩnh 51% thị phần dịch vụ viễn thông tại Hàn Quốc, tuy nhiên, luật pháp Hàn Quốc quy định khống chế sự phát triển thêm thuê bao đối với những trường hợp như SKT, nhằm bảo vệ các doanh nghiệp nhỏ và mới thành lập trước sự cạnh tranh của các “đại gia” trên thị trường, và đây chính là một trong những nguyên nhân chính khiến tập đoàn này phải đẩy mạnh đầu tư ra nước ngoài, trong đó có S-Fone Việt Nam [41]. Hiện nay, những lĩnh vực là lợi thế của các doanh nghiệp trong nước cũng chính là những lĩnh vực mà các doanh nghiệp này đầu tư ra nước ngoài.
Hoạt động đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc có thể được xem là một ví dụ điển hình. Mức đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc tăng từ 0,4 tỷ USD thập kỷ 80 lên 2,3 tỷ USD thập kỷ 90, và đã lên tới 35 tỷ USD trong năm 3 2004. Trung Quốc hiện đang nổi lên như là một quốc gia đầu tư quốc tế lớn đồng thời cũng là quốc gia thu hút được số lượng đầu tư nước ngoài hàng đầu thế giới. Trong năm 2003, 12 doanh nghiệp của Trung Quốc có mặt trong danh sách 500 tập đoàn hùng mạnh nhất thế giới.500 doanh nghiệp Trung Quốc thành lập những cơ sở làm ăn ở nước ngoài và nhiều hãng trong số đó rất phát đạt như TCL, Huawi, Haier, Ningbo Bird, D'Long.
Có 3 yếu tố thúc đẩy Trung Quốc khuyến khích việc đầu tư ra nước ngoài. Đầu tiên là do dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc hiện đã lên đến hơn 400 tỉ USD và điều này có thể thúc đẩy việc định giá lại đồng nhân dân tệ mà Trung Quốc không mong muốn. Để giảm bớt áp lực, Chính phủ Trung Quốc chủ trương chuyển bớt tư bản ra nước ngoài. Thứ hai là do yêu cầu cấp thiết về dự trữ nguyên liệu để phục vụ cho nền kinh tế đang đạt mức tăng trưởng nhanh.
3 Công ty dầu lửa quốc gia Trung Quốc là Sinopec, Petrochina và CNOOC đã mua cổ phần tại 14 quốc gia Châu Á, Trung Đông, châu Phi và Mỹ La-tinh. Nguyên nhân cuối cùng là tình hình cạnh tranh khốc liệt ở thị trường Trung Quốc khiến lợi nhuận của các công ty bị sụt giảm nên họ đi tìm lợi nhuận lớn hơn bằng việc đầu tư ra nước ngoài [54]. Một nguyên nhân khác dẫn đến sự gia tăng của đầu tư ra nước ngoài là việc các nhà đầu tư tìm thấy ở việc đưa hoạt động sản xuất ra nước ngoài là một biện pháp hữu hiệu nhằm xâm nhập vào thị trường thế giới mà vẫn tránh được các rào cản thương mại, bao gồm chính sách hạn ngạch và thuế quan. Đặc biệt trong thời gian gần đây, việc Cộng đồng châu Âu (EU), Canada và Hoa Kỳ áp dụng thuế chống bán phá giá đối với một số sản phẩm, hàng hóa của một số nước nhập khẩu vào thị trường của các quốc gia này đã và đang tạo ra một sức ép lớn đối với các quốc gia xuất khẩu các mặt hàng thuộc diện bị áp dụng thuế chống bán phá giá.
Một trong những cách thức để giải quyết vấn đề này là nhà đầu tư đưa dây chuyền sản xuất của mình sang một quốc gia 4 chưa bị áp dụng thuế chống bán phá giá để sản xuất và tiếp tục xuất khẩu hàng hóa vào các thị trường nước ngoài truyền thống. Tập đoàn Haier của Trung Quốc đã xây dựng chiến lược đầu tư vào Hoa Kỳ để củng cố vị thế của tập đoàn tại thị trường Hoa Kỳ và là cách để tránh các vụ kiện chống bán phá giá [42, tr. Trung Quốc đã từng bị EU áp dụng thuế chống bán phá giá đối với mặt hàng bóng đèn compact. Một số doanh nghiệp sản xuất bóng đèn compact của Trung Quốc như ECO Industry International Inc, đã tìm đến thị trường Việt Nam, xây dựng nhà máy sản xuất và tiếp tục xuất khẩu sản phẩm sang thị trường EU (Công ty này đã thành lập Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài tại Khu công nghiệp Đình Vũ, Hải Phòng, năm 2003, xuất khẩu 80% sản phẩm).
Hãng dệt may Dunsky của Thượng Hải đang tìm kiếm cơ hội xây dựng một nhà máy ở miền bắc Việt Nam với lợi thế giá nhân công rẻ hơn 40% so với thị trường nội địa. Tuy nhiên, lý do chính là một môi trường xuất khẩu mặt hàng dệt may tại Việt Nam bị áp dụng ít hơn các biện pháp tự vệ thương mại của các thị trường lớn trên thế giới, trong đó có thị trường Hoa Kỳ. Tương tự như vậy, các doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ nội thất của Trung Quốc cũng đang ráo riết đầu tư sang Indonesia để tránh bị áp dụng thuế bán phá giá tại thị trường Hoa Kỳ và khai thác nguồn nguyên liệu tại chỗ. Những ưu thế thương mại, ưu đãi đầu tư được thiết lập dành cho các quốc gia thành viên của các liên kết kinh tế khu vực cũng có sức hấp dẫn nhất định đối với các nhà đầu tư của các quốc gia nằm ngoài liên kết kinh tế.
Nhiều nhà đầu tư Hàn Quốc và Trung Quốc đã không che giấu mục đích của họ khi đầu tư vào Việt Nam hoặc các quốc gia trong khu vực ASEAN là nhằm khai thông cửa ngõ cho hoạt động đầu tư của mình với khu vực hợp tác kinh tế này để được hưởng những ưu đãi đối với hàng hóa và dịch vụ có xuất xứ từ các quốc gia thành viên ASEAN, đặc biệt là chính sách thuế xuất nhập khẩu, cũng như những đãi ngộ đối với hoạt động đầu tư giữa các quốc gia 5 thành viên. Một trong những ví dụ điển hình là chiến lược kinh doanh của SK Telecom, Huyndai (Hàn Quốc) và TCL (Trung Quốc) tại Việt Nam với mục tiêu sử dụng Việt Nam như “cửa ngõ” hướng tới cung cấp sản phẩm và dịch vụ tới các quốc gia trong khu vực ASEAN [44]. Nhu cầu đầu tƣ ra nƣớc ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam Đối với các doanh nghiệp Việt Nam, đầu tư ra nước ngoài đang được xem là một cách tiếp cận mới để thâm nhập thị trường quốc tế [45]. Các doanh nghiệp Việt Nam đã tìm thấy ở thị trường nước ngoài những thuận lợi hơn so với môi trường kinh doanh trong nước để có thể tối đa hóa lợi nhuận.
Hoạt động đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam cũng không nằm ngoài cơ sở của hoạt động đầu tư quốc tế, đó là mục tiêu khai thác sự chênh lệch về trình độ lực lượng sản xuất và chi phí sản xuất tại các quốc gia nhận đầu tư để tăng tỷ suất lợi nhuận.