lời mở đầu của PICC (phần bình luận cũng là một phần của bộ nguyên tắc hoàn chỉnh) đã chỉ rõ: “Tính quốc tế của hợp đồng có thể xác định bằng nhiều cách. Những cách này được công nhận cả trên phạm vi luật pháp quốc tế và phạm vi luật pháp quốc gia, từ việc căn cứ vào nơi kinh doanh hoặc nơi thường trú của các đối tác cho đến việc áp dụng tới những tiêu chuẩn tổng quát hơn như việc đánh giá hợp đồng "có quan hệ quan trọng tới nhiều quốc gia", "liên quan đến sự lựa chọn giữa luật của các nước khác nhau", hoặc "có ảnh hưởng đến các quyền lợi trong buôn bán quốc tế. PICC không nhằm bác bỏ bất cứ tiêu chuẩn nào vừa kể trên. Tuy nhiên, theo giả định của nguyên tắc này thì quan niệm về các hợp đồng "quốc tế" nên được giải thích theo nghĩa rộng nhất, để loại trừ những trường hợp không liên quan đến các yếu tố quốc tế, ví dụ khi tất cả các yếu tố cơ bản của hợp đồng chỉ liên quan đến một quốc gia cụ thể”.
Như vậy theo PICC, tính “quốc tế” của hợp đồng cần phải được giải thích theo nghĩa rộng nhất có thể, chỉ không coi là hợp đồng không có tính quốc tế nếu nó không có bất kỳ một yếu tố quốc tế nào - nghĩa là tất cả các yếu tố cơ bản của hợp đồng chỉ liên quan đến một quốc gia duy nhất. Như vậy theo pháp luật quốc tế, tiêu chí “lãnh thổ” được coi là căn cứ chủ yếu để xác định tính chất “quốc tế” của hợp đồng giữa các bên có “trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau”. Đối với trường hợp của PICC, nội hàm của tính “quốc tế” được mở rộng nhất: hợp đồng chỉ được coi là có tính chất nội địa khi nó không có bất kì yếu tố quốc tế nào. Theo pháp luật Việt Nam Đối với pháp luật Việt Nam, tính chất “quốc tế” hay “yếu tố nước ngoài” của hợp đồng được ghi nhận trong nhiều văn bản và qua nhiều thời kì khác nhau.
Trong Quy chế tạm thời số 4794/TN-XNK về hướng dẫn việc ký kết hợp đồng mua bán ngoại thương do Bộ Thương nghiệp (nay là Bộ Công Thương) ban hành ngày 31/07/1991: “Hợp đồng mua bán ngoại thương là hợp đồng mua bán có tính chất quốc tế” với ba tính chất sau: thứ nhất, chủ thể của hợp đồng là những pháp nhân có quốc tịch khác nhau; thứ hai, hàng hóa là đối tượng của hợp đồng được dịch chuyển từ nước này sang nước khác; thứ ba, đồng tiền thanh toán trong hợp đồng là ngoại tệ đối với một bên hoặc cả hai bên ký kết hợp đồng”. Đến Luật Thương mại số 58/L-CTN năm 1997, thì xuất hiện tên gọi “hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài”. Điều 80 của Luật Thương mại năm 1997 quy định: “Hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài là hợp đồng mua bán hàng hóa được ký kết giữa một bên là thương nhân Việt Nam với một bên là thương nhân nước ngoài”. Như vậy, tiêu chí để xác định “yếu tố nước ngoài” chỉ là yếu tố quốc tịch của các bên chủ thể hợp đồng.
Như vậy, Luật Thương mại1997 đã thu hẹp nội hàm khái niệm tính “quốc tế” của hợp đồng. Với cách hiểu này, một loạt các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế khác sẽ không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Thương mại năm 1997 như hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế giữa các thương nhân Việt Nam với nhau nhưng việc ký kết được tiến hành ở nước ngoài, hợp đồng mua bán hàng hóa giữa thương nhân nước ngoài với nhau ở Việt Nam. Hiện nay, việc xác định “yếu tố nước ngoài” hay “quốc tế” của quan hệ hợp đồng được xác định theo Khoản 2 Điều 663 Bộ luật Dân sự 2015. Theo quy định này, hợp đồng, dù mang tính chất dân sự hay thương mại, sẽ có “yếu tố nước ngoài” hay “quốc tế” trong ba trường hợp như sau: a) Hợp đồng có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, pháp nhân nước ngoài; b) Hợp đồng mà các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt hợp đồng đó xảy ra tại nước ngoài; c) Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng đối tượng của hợp đồng đó ở nước ngoài.
Ngoài ra, khái niệm về tính “quốc tế” của hợp đồng và các vấn đề pháp lý liên quan đến việc điều chỉnh loại hợp đồng này còn được quy định trong Luật Thương mại 2005, Luật Quản lý ngoại thương năm 2017, Nghị định số 69/2018/NĐ-CP ngày 15/05/2018 quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý ngoại thương (Nghị định 69/2018/NĐ-CP) và Nghị định 09/2018/NĐ-CP ngày 15/01/2018 quy định chi tiết Luật thương mại và Luật Quản lý ngoại thương về hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa của nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (Nghị định 09/2018/NĐ-CP). Theo Khoản 1 Điều 3 Luật Quản lý Ngoại thương năm 2017 thì “Hoạt động ngoại thương là hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế được thực hiện dưới các hình thức xuất khẩu, nhập khẩu; tạm nhập, tái xuất; tạm xuất, tái nhập; chuyển khẩu; quá cảnh và các hoạt động khác có liên quan đến hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế theo quy định của pháp luật và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.” Như vậy, theo quy định này thì tiêu chí để xác định “yếu tố nước ngoài” của hợp đồng chỉ là việc hàng hóa là đối tượng của hợp đồng phải được dịch chuyển qua biên giới. Với những loại HĐMBHHQT mà hàng hóa không có sự dịch chuyển qua biên giới thì rõ ràng sẽ không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Thương mại 2005. Tuy nhiên, theo Khoản 3 Điều 4 Luật Thương mại 2005 thì: “Hoạt động thương mại không được quy định trong Luật thương mại và trong các luật khác thì áp dụng quy định của Bộ luật dân sự”.
Như vậy, đối với những HĐMBHHQT mà hàng hóa là đối tượng của hợp đồng không được chuyển giao qua biên giới như hợp đồng mua bán hàng hóa giữa một thương nhân Việt Nam với một thương nhân nước ngoài nhưng hàng hóa chỉ được dịch chuyển trong lãnh thổ Việt Nam thì hoàn toàn có thể áp dụng các quy định của Bộ luật Dân sự 2015 đối với hợp đồng có yếu tố nước ngoài để điều chỉnh. Phân loại HĐMBHHQT a) Căn cứ vào thời gian thực hiện HĐMBHHQT có thể phân loại HĐMBHHQT thành hợp đồng ngắn hạn và hợp đồng dài hạn. Hợp đồng ngắn hạn (một lần) là loại hợp đồng thường được ký kết trong một thời gian tương đối ngắn và sau một lần thực hiện thì hai bên đã hoàn thành nghĩa vụ của mình. Ngay khi đó, quan hệ pháp lý giữa hai bên trong hợp đồng coi như kết thúc.
Hợp đồng dài hạn (nhiều lần) là loại hợp đồng thường được thực hiện trong thời gian lâu dài và trong thời gian đó việc giao hàng được tiến hành làm nhiều lần. b) Căn cứ theo phương thức thực hiện, HĐMBHHQT có thể chia thành các loại chính sau: Hợp đồng xuất khẩu, hợp đồng nhập khẩu, hợp đồng tạm nhập - tái xuất, hợp đồng tạm xuất - tái nhập, hợp đồng chuyển khẩu và hợp đồng quá cảnh. Xuất khẩu hàng hoá là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật (Điều 28 Khoản 1 Luật Thương mại năm 2005). Nhập khẩu hàng hoá là việc hàng hoá được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật.
Tạm nhập, tái xuất hàng hoá là việc hàng hoá được đưa từ lãnh thổ nước ngoài hoặc từ các khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật Việt Nam, có làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và làm thủ tục xuất khẩu chính hàng hoá đó ra khỏi Việt Nam” (Điều 29 Khoản 1 Luật Thương mại năm 2005). Tạm xuất, tái nhập hàng hoá là việc hàng hoá được đưa ra nước ngoài hoặc đưa vào các khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật, có làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam và làm thủ tục nhập khẩu lại chính hàng hoá đó vào Việt Nam. Chuyển khẩu hàng hoá là việc mua hàng từ một nước, vùng lãnh thổ để bán sang một nước, vùng lãnh thổ ngoài lãnh thổ Việt Nam mà không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và không làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam (Điều 30 Khoản 1 Luật Thương mại năm 2005). Quá cảnh hàng hóa là việc vận chuyển hàng hóa thuộc sở hữu của tổ chức, cá nhân nước ngoài qua lãnh thổ Việt Nam, kể cả việc trung chuyển, chuyển tải, lưu kho, chia tách lô hàng, thay đổi phương thức vận tải hoặc các công việc khác được thực hiện trong thời gian quá cảnh (Điều 241 Luật Thương mại năm 2005).
Đặc điểm của HĐMBHHQT HĐMBHHQT, trước hết mang những đặc điểm của hợp đồng mua bán trong nước về sự thỏa thuận, thống nhất ý chí giữa bên bán và bên mua hàng hóa về đối tượng hợp đồng, về hình thức, nội dung của hợp đồng. Tuy nhiên, HĐMBHHQT còn mang tính chất quốc tế hay nói cách khác là “có yếu tố nước ngoài”. Đây chính là điểm mấu chốt thể hiện sự khác biệt cơ bản của HĐMBHHQT so với hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước. Tính quốc tế của HĐMBHHQT đã hình thành nên những đặc điểm mang tính chất đặc trưng của loại hợp đồng này so với các hợp đồng mua bán hàng hóa khác.
Về chủ thể hợp đồng Chủ thể thường xuyên và chủ yếu của các HĐMBHHQT là các thương nhân có trụ sở thương mại ở các nước khác nhau. Trụ sở thương mại thường được hiểu là nơi thường xuyên tiến hành các hoạt động thương mại của thương nhân, hoặc là nơi đặt cơ quan điều hành của thương nhân. Tuy nhiên, trên thực tế có trường hợp thương nhân không có trụ sở thương mại hoặc có nhiều trụ sở thương mại ở các nước khác nhau.