CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH TRỢ CẤP XÃ HỘI 1.1 Chính sách của Nhà nước và hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam 1.1 Quan niệm về chính sách của Nhà nước Chính sách là một trong những công cụ, phương tiện quản lý của Nhà nước để tác động lên xã hội nhằm đạt được các mục tiêu quản lý đề ra. Những mục tiêu này bao gồm sự phát triển toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế văn hóa – xã hội – môi trường. Chính sách được cụ thể hóa trong hệ thống văn bản luật pháp, các chương trình phát triển kinh tế xã hội, các dự án và các giải pháp, biện pháp can thiệp trực tiếp vào các nhóm đối tượng cụ thể. Chính sách của Nhà nước là tổng thể các quan điểm, chuẩn mực, biện pháp, thủ thuật mà nhà nước sử dụng để tác động lên xã hội nhằm đạt được các mục tiêu quản lý xã hội cụ thể nào đó một cách tốt nhất sau một thời gian nhất định.
Chính sách của Nhà nước khi ban hành và tổ chức thực hiện cần phải được phân tích và đánh giá hiệu quả. Chính sách xã hội là một bộ phận quan trọng trong chính sách của Đảng nhằm đạt được mục tiêu phát triển bền vững, trong đó tạo việc làm, giảm thất nghiệp, xóa đói giảm nghèo, nâng cao chất lượng nguồn lực, tăng cường cơ hội và đảm bảo bình đẳng nam nữ, quan tâm thích đáng đến các đối tượng người có công, người yếu thế, chăm sóc trẻ em và các nhóm xã hội khác có vai trò rất quan trọng.2 Hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam Việc định nghĩa an sinh xã hội phụ thuộc vào cách tiếp cận của mỗi tổ chức, học giả nghiên cứu hoặc quốc gia. Trên thế giới có nhiều tổ chức, học giả đã đưa ra định nghĩa an sinh xã hội. Khái quát cụ thể một số khái niệm như sau: 7 Trong quyển sách “An sinh xã hội từ bác ái đến công bằng” (năm 1971), J.Romanyshyn cho rằng: an sinh xã hội là sự can thiệp vào xã hội với mối quan tâm trực tiếp và cơ bản là sự phát huy vai trò xã hội cho cá nhân và cho toàn xã hội.
Nói cách khác, an sinh xã hội là các biện pháp, quá trình liên quan đến việc giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội tác động đến con người, sự phát triển tài nguyên nhân lực và cải tiến chất lượng cuộc sống. Compton trong quyển sách “Nhập môn an sinh xã hội và công tác xã hội” (năm 1980) quan niệm: an sinh xã hội là một thiết chế bao gồm các chính sách và luật pháp được thực thi bởi các tổ chức tự nguyện hay tổ chức Nhà nước nhằm cung ứng cho các cá nhân, gia đình, nhóm xã hội các dịch vụ xã hội, tiền và quyền lợi khác (y tế, giáo dục, nhà ở, …) do họ không nhận được từ thị trường nhằm mục đích ngăn ngừa, giảm nhẹ hay đóng góp vào việc giải quyết các vấn đề xã hội, cải thiện trực tiếp cuộc sống cá nhân, nhóm, cộng đồng. Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) trong "Báo cáo xây dựng chỉ số an sinh xã hội cho giảm nghèo” (năm 2004) đã định nghĩa: an sinh xã hội là tập hợp các chính sách và chương trình được thiết kế để giảm nghèo đói và tính chất dễ bị tổn thương bằng cách nâng cao hiệu quả của thị trường lao động, giảm bớt khả năng mắc phải rủi ro của con người và nâng cao khả năng của họ để tự bảo vệ mình trước những mối nguy hiểm và gián đoạn hay mất thu nhập. Khái niệm này của Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) tiếp cận theo hướng xây dựng các giải pháp, biện pháp, chính sách nhằm can thiệp, tác động và điểu chỉnh nền kinh tế hướng cho giảm nghèo của các quốc gia.
Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đã đưa ra một khái niệm về an sinh xã hội và được thực hiện khá rộng rãi. Khái niệm này là kết quả của một giai đoạn lịch sử lâu dài và dựa trên cơ sở công ước của ILO từ năm 1946: “An sinh xã hội là một sự bảo vệ mà xã hội cung cấp cho các thành viên của mình thông qua một số biện pháp được áp dụng rộng rãi để đương đầu với những 8 khó khăn, các cú sốc về kinh tế và xã hội là mất hoặc suy giảm nghiêm trọng thu nhập hoặc tử vong. An sinh xã hội cung cấp chăm sóc y tế và trợ giúp cho các nạn nhân là trẻ em”. Ở nước ta, thuật ngữ "An sinh xã hội" được dịch từ định nghĩa "Social Protection" (Bảo trợ xã hội) cụ thể: an sinh xã hội là sự bảo vệ của xã hội đối với công dân thông qua các biện pháp công cộng nhằm giúp họ khắc phục những khó khăn về kinh tế và xã hội do bị ngừng hoặc giảm thu nhập từ những nguyên nhân khác nhau (ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, tàn tật, già cô đơn, trẻ em mồ côi, …), đồng thời đảm bảo chăm sóc y tế và các khoản trợ cấp thiết yếu.
Một số tác giả cũng góp phần tìm hiểu về vấn đề an sinh xã hội như các tác giả: Tác giả Bùi Chí Cường viết: “Hệ thống an sinh xã hội mở rộng và phát triển theo tiến trình lịch sử, nó phụ thuộc vào động thái các nhu cầu xã hội thiết yếu của con người và vào biến đổi cơ cấu kinh tế xã hội. Ngày nay, người ta thường kể ra một số những vấn đề chủ chốt của hệ thống an sinh xã hội như: dân số và gia đình, đào tạo nghề nghiệp và công ăn việc làm, thu nhập và các cơ cấu đảm bảo tiêu dùng của dân cư, giáo dục và chăm sóc sức khỏe, bảo hiểm và trợ giúp xã hội, môi trường.” Tác giả Hoàng Chí Bảo viết: “An sinh xã hội là sự an toàn của cuộc sống con người, từ cá nhân đến cộng đồng, tạo tiền đề và động lực cho sự phát triển con người và xã hội. An sinh xã hội là những đảm bảo xã hội cho con người tồn tại như một con người và phát triển các sức mạnh bản chất người, tức là nhân tính trong hoạt động, trong đời sống hiện thực của nó như một chủ thể mang nhân cách. An sinh xã hội bao hàm trong nó cả những đảm bảo về an ninh để con người sống, làm việc, thực hiện được nhu cầu, lợi ích chính đáng, hợp lý của mình trong quá trình phát triển; con người nhận được từ xã hội những đảm bảo về cuộc sống, những bảo vệ trước những rủi ro, bất 9 trắc, những tình huống bất thường đe dọa hoặc phá hủy trạng thái bình yên, quyền sống và sự thụ hưởng lợi ích của họ.” Tác giả Mạc Văn Tiến viết: “Theo tiếng Anh, an sinh xã hội thường được gọi là social security và khi dịch ra tiếng Việt, ngoài an sinh xã hội thì thuật ngữ này còn được dịch là bảo đảm xã hội, bảo trợ xã hội, an ninh xã hội, an toàn xã hội,… với những ý nghĩa không tương đồng nhau.
Theo nghĩa chung nhất, social security là sự đảm bảo thực hiện các quyền con người, được sống trong hòa bình, được tự do làm ăn, cư trú, di chuyển, phát biểu chính kiến trong khuôn khổ pháp luật; được bảo vệ và bình đẳng trước pháp luật, được học tập, được có việc làm, có nhà ở; được đảm bảo thu nhập để thỏa mãn những nhu cầu sinh sống thiết yếu khi bị rủi ro, tai nạn, tuổi già… Theo nghĩa hẹp, social security là sự đảm bảo thu nhập và một số những điều kiện thiết yếu khác cho cá nhân, gia đình và cộng đồng khi họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm; cho những người già cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, người nghèo đói và những người bị thiên tai địch họa.” Có sự khác nhau về phương pháp tiếp cận định nghĩa an sinh xã hội giữa các tổ chức quốc tế và các quốc gia. Nhận xét chung cho thấy các khái niệm đều nặng về giải thích ngữ nghĩa của từ và còn trừu tượng. Điều đặc biệt là phạm vi định nghĩa rộng, gồm nhiều lĩnh vực xã hội (Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, trợ cấp xã hội, cứu trợ xã hội cộng đồng, trợ giúp mất việc làm, thất nghiệp, tín dụng vi mô nhỏ, quyền trẻ em và phụ nữ, …). Tổng hợp các quan niệm trên và từ thực tiễn của nước ta có thể đưa ra định nghĩa về hệ thống an sinh xã hội như sau: An sinh xã hội hay hệ thống an sinh xã hội là tập hợp các giải pháp, biện pháp về mặt xã hội được Nhà nước thiết kế song song với hệ thống chính sách kinh tế để bảo vệ cho dân cư có khả năng ngăn chặn, phòng ngừa và khắc phục được các khó khăn trong cuộc sống do các nguyên nhân khách quan và chủ quan.
10 Như vậy, hệ thống an sinh xã hội có đặc điểm sau: An sinh xã hội là những chính sách, hệ thống luật pháp của Nhà nước, một mặt trực tiếp thực hiện các chức năng trợ giúp và quản lý xã hội trên phạm vi quốc gia, mặt khác tạo môi trường pháp lý để mọi cá nhân, tổ chức hoạt động, bảo đảm sự an sinh của mọi người dân. An sinh xã hội là những hoạt động hàng ngày của cá nhân, gia đình, cộng đồng, các tổ chức xã hội, tổ chức từ thiện, các tổ chức kinh tế, của Nhà nước nhằm phát triển kinh tế, phòng ngừa rủi ro, tổ chức các dịch vụ y tế, giáo dục. Ở nước ta, hệ thống an sinh xã hội ngày càng được quan tâm và có nhiều nghiên cứu để an sinh xã hội đổi mới theo hướng có lợi cho đối tượng và càng ngày càng sát sao các đối tượng cần giúp đỡ. Các cấu phần của hệ thống đã đảm bảo thực hiện được các chức năng của hệ thống.
Tuy vậy, hệ thống an sinh xã hội còn thiếu tính thống nhất và đồng bộ cả về mức độ bao phủ, thể chế văn bản, các nội dung chính sách, hệ thống dịch vụ cung cấp. Do đó, chúng ta cần có những nghiên cứu và hoàn thiện phù hợp với quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong thời gian tới.2 Chính sách trợ cấp xã hội 1.1 Quan niệm, đặc điểm của chính sách trợ cấp xã hội 1.