CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Lạng Sơn 1. Điều kiện tự nhiên của Lạng Sơn 1. Vị trí địa lý Lạng Sơn là tỉnh trung du thuộc vùng Đông Bắc - Bắc bộ có toạ độ địa lý 21o19’31” – 22o27’44” vĩ độ Bắc và 106o05’38” – 107o21’48” kinh độ Đông.
Địa giới hành chính của tỉnh Lạng Sơn như sau: - Phía Đông bắc giáp Sùng Tả (Quảng Tây, Trung Quốc) - Phía Tây giáp tỉnh Bắc Kạn; - Phía Tây – Nam giáp với Thái Nguyên; - Phía Nam giáp tỉnh Bắc Giang; - Phía Đông, Đông – Nam giáp với Quảng Ninh; - Phía Bắc, Tây Bắc giáp tỉnh Cao Bằng. Lạng Sơn có hai cửa khẩu quốc tế: Cửa khẩu đường sắt Đồng Đăng và cửa khẩu đường bộ Hữu Nghị; có bốn cửa khẩu quốc gia: Chi Ma (Huyện Lộc Bình), Bình Nghi (Huyện Tràng Định), Tân Thanh (Huyện Văn Lãng), Cốc Nam (Huyện Cao Lộc) và 7 cặp chợ biên giới với Trung Quốc[15, 25]. Địa hình - địa mạo Lạng Sơn có địa hình phức tạp gồm: vùng núi cao, vùng đá vôi, núi thấp và đồi, trong đó đồi núi chiếm hơn 80% diện tích cả tỉnh. Dạng địa hình phổ biến ở Lạng Sơn là núi thấp và đồi, độ cao trung bình 252m so với mặt nước biển.
Nơi thấp nhất là 20m ở phía Nam huyện Hữu Lũng và nơi cao nhất là núi Mẫu Sơn 1541m. Địa hình được chia thành 3 tiểu vùng, vùng núi phía Bắc (gồm các núi đất xen núi đã chia cắt phức tạp tạo niên miền mái núi có độ dốc trên 35 0) vùng núi đá vôi (thuộc cánh cung Bắc Sơn - Văn Quan - Chi Lăng - Hữu Lũng, có nhiều hang động, sườn dốc đứng và có nhiều đỉnh cao trên 550m ) vùng đồi núi thấp phía Nam và Đông Nam bao gồm hệ thống đồi núi thấp xen kẽ các dạng đồi bát úp, độ dốc trung bình 10 – 250[15, 25]. 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Vị trí hành chính tỉnh Lạng Sơn Nguồn: Phòng đo đạc và bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lạng Sơn 1.
Khí tượng thủy văn Lạng Sơn có các khí hậu vùng đặc trưng là: - Khí hậu vùng núi cao Mẫu Sơn. - Khí hậu vùng núi vừa và thấp phía Bắc và Đông. - Khí hậu vùng núi thấp phía Nam. - Khí hậu vùng phía Tây và Tây Nam.
Nét đặc trưng của khí hậu Lạng Sơn miền nhiệt không quá cao. Có mùa đông tương đối dài (tới 5 tháng) và khá lạnh. Lượng mưa trung bình năm là 1.600mm, với số ngày mưa là 135 ngày/năm. Nơi duy nhất có lượng mưa trên 1600mm là Mẫu Sơn (2589 mm).
Nhiều nơi mưa dưới 1200mm, trong đó ít nhất là 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ðồng Ðăng 1104,7mm, Na Sầm 1118,4mm. Hướng gió và tốc độ gió của Lạng Sơn vừa chịu sự chi phối của yếu tố hoàn lưu, vừa bị biến dạng bởi địa hình. Mùa lạnh thịnh hành gió Bắc, mùa nóng thịnh hành gió Nam và Đông Nam[15, 25]. Điều kiện Kinh tế - Xã hội của Lạng Sơn 1.
Dân số tỉnh Lạng Sơn các năm từ 2008 - 2014 (Nguồn: Tổng hợp từ các Báo cáo quan trắc môi trường tỉnh Lạng Sơn các năm 2008, 2009, 2010, 2011, 2012, 2013, 2014 của Sở Tài nguyên và Môi trường Lạng Sơn) Từ năm 2008 đến năm 2014 dân số toàn tỉnh ngày càng gia tăng, với tỷ lệ tăng hàng năm từ 1,13% đến 1,16%. Năm 2008 dân số toàn tỉnh vào khoảng 740,200 người, thì đến đầu năm 2014 dân số toàn tỉnh Lạng Sơn đã vào khoảng 745,800 người. Lạng Sơn chủ yếu là lao động nông nghiệp, số lao động qua đào tạo lại chiếm tỉ trọng tương đối thấp, khoảng 19,6% trong tổng số lao động, số lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao rất ít. Sự phân bố dân cư Lạng Sơn không đồng đều giữa các huyện, thành phố, giữa các khu vực thành thị và nông thôn.
Mật độ dân số tập trung cao ở thành phố Lạng Sơn (1,035 người/ km2), huyện Hữu Lũng (143 người/ km2 ), huyện Cao Lộc (116 người/ km2), nơi có điều kiện thuận lợi cho canh tác nông nghiệp, phát triển công nghiệp, thương mại - dịch vụ. Trong đó các huyện vùng cao mật độ dân số thấp như Đình Lập (24 người/ km2), huyện Bình Gia (50 người/ km2) nơi không có điều kiện cơ sở hạ tầng thuận lợi. Chính vì vậy, hiện tượng di dân tự do từ miền núi xuống đồng bằng, từ nông thôn vào thành thị đang diễn ra không kiểm soát được. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Sự gia tăng dân số trong tỉnh đã góp phần tăng sức ép lớn đối với đất đai, nguồn cung cấp năng lượng, tài nguyên thiên nhiên.
Cùng với gia tăng dân số là ô nhiễm môi trường do các hoạt động sinh sống của con người gây ra đã tác động xấu đến sức khỏe cộng đồng và gây thiệt hại về kinh tế[15, 20, 21, 22, 23, 24, 25]. Hoạt động công nghiệp Trong giai đoạn 2001- 2013, sản xuất CN- tiểu thủ CN trên địa bàn tỉnh đạt mức khá cao, bình quân cả thời kỳ là 19,86%; tỉ trọng CN trong GDP tăng từ 6% năm 2001 lên 13,33% năm 2010. Cơ cấu CN được phân theo 3 nhóm ngành chủ yếu là CN khai thác mỏ, CN chế biến, CN sản xuất và phân phối điện, nước. Đối với CN khai thác mỏ, giữa tháng 9/2011 theo đánh giá: khoáng sản trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn rất phong phú, đa dạng về chủng loại nhưng lại khá ít về trữ lượng và hàm lượng.
Còn theo đánh giá của các ngành chức năng, ngoài than nâu có trữ lượng tương đối và nguồn đá vôi dồi dào, lên đến hàng tỉ m3, trên địa bàn tỉnh còn có một số loại khoảng sản khác như: Sắt, bôxít - nhôm, chì, kẽm, atimon, ba-rít… được phân bố rải rác trong toàn tỉnh với trữ lượng thấp và đang được khai thác, chế biến với quy mô nhỏ lẻ. Vì vậy, CN khai thác mỏ trên địa bàn tỉnh thời gian qua chủ yếu vẫn là khai thác phục vụ sản xuất vật liệu xây dựng và khai thác than nâu phục vụ sản xuất điện[15, 25]. Bên cạnh khai thác mỏ, ngành CN chế biến hiện đang chiếm tỉ trọng khá lớn trong cơ cấu giá trị sản xuất CN, tập trung vào một số lĩnh vực chính: nhóm chế biến nông lâm sản, lương thực, thực phẩm, chiếm 20% giá trị CN chế biến; nhóm chế biến vật liệu xây dựng, hoạt động tương đối ổn định và chiếm 35% cơ cấu, tập trung vào các loại hình sản xuất: xi măng, gạch, đá các loại; nhóm cơ khí, lắp ráp sửa chữa, sản xuất hàng tiêu dùng với các hoạt động lắp ráp linh kiện, phụ tùng xe máy, máy bơm nước, nồi cơm điện, sản phẩm nhựa…và chiếm 45% cơ cấu. Ngành CN sản xuất và phân phối điện nước trong thời gian qua là nhóm ngành có mức tăng trưởng mạnh nhất Theo quy hoạch phát triển CN của tỉnh giai đoạn 2011- 2020 có xét đến 2025, ngành CN khai thác mỏ sẽ tập trung vào khai thác chế biến, sản xuất những 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tài nguyên khoáng sản thế mạnh sẵn có tại địa phương theo hướng hiện đại hóa công nghệ, thiết bị, sản phẩm; gắn hiệu quả kinh tế với hiệu quả xã hội, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường sinh thái và cảnh quan thiên nhiên.
Đối với ngành CN chế biến như: sản xuất vật liệu xây dựng, cơ khí luyện kim, thiết bị điện, điện tử, khai thác và chế biến khoáng sản… đạt tốc độ tăng trưởng bình quân cả thời kỳ là 22,35%, giá trị sản xuất ước đạt 1,571,981 triệu đồng, chiếm tỉ trọng 42,67% trong năm 2015 và đạt 3,169,215 triệu đồng, chiếm tỉ trọng 46,41% năm 2020. Cũng theo quy hoạch, nhóm ngành sản xuất và phân phối điện nước trong giai doạn 2011- 2020 cần tận dụng tối đa các nguồn đầu tư từ các nguồn vốn trong và ngoài nước, đa dạng hóa các hình thức đầu tư như: ODA, BOT, liên doanh, cổ phần…[15, 25]. Lạng Sơn có khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng – Lạng Sơn đã được phê duyệt theo các quyết định của Thủ thướng Chính phủ: số 55/2008/QĐ-TTg, ngày 28/4/2008 phê duyệt đề án xây dựng Khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng-Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn; số 138/QĐ-TTg, ngày 14/10/2008 về thành lập và ban hành Quy chế hoạt động của Khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng-Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn; số 1601/QĐ-TTg ngày 07/11/2008 về việc thành lập Ban Quản lý Khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng-Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Khi khu vực này đi vào giai đoạn san lấp mặt bằng, đặc biệt khi đi vào hoạt động sẽ gây một sức ép rất lớn lên môi trường do tiêu thụ một lượng lớn tài nguyên thiên nhiên địa phương trong quá trình vận hành các nhà máy và chất thải từ các nhà máy ra môi trường.
Ngoài ra các khu công nghiệp hiện có trong tỉnh được quy hoạch trong tỉnh cũng chưa hợp lý, đa số các khu công nghiệp nằm bám sát theo đường quốc lộ và nằm sát cạnh khu dân cư. Đây cũng là nguyên nhân gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của bộ phận dân cư sống liền kề với các khu công nghiệp [15, 25]. Sản xuất và phân phối điện sẽ đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 4,67% trong giai đoạn 2011- 2015, chiếm 12,71% tỉ trọng trong ngành CN và đạt 11,57% trong giai đoạn 2015- 2020, chiếm tỉ trọng 11,85%; giá trị sản xuất cũng tăng từ 371,081 triệu đồng năm 2010 lên 468,172 triệu đồng năm 2015 và đạt 809,192 triệu đồng 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Sản xuất và phân phối nước được đầu tư mở rộng bằng nhiều hình thức.Thông qua việc xây dựng nhà máy xử lý nước có công suất 90 nghìn m3/ngày đêm sẽ đáp ứng đủ nhu cầu về nước cho các hoạt động tiêu dùng, sản xuất kinh doanh.
Trong giai đoạn này, giá trị sản xuất của ngành sản xuất và phân phối nước ước đạt 25.000 triệu đồng, chiếm tỉ trọng 0,68% vào năm 2015 và 45.000 triệu đồng, chiếm tỉ trọng 0,66% vào năm 2020. Ngành điện hiện đang gây tác động mạnh lên môi trường trên hai khía cạnh là khai thác tài nguyên thiên nhiên và khí thải từ việc đốt nhiên liệu hóa thạch của nhà máy nhiệt điện Na Dương gây ô nhiễm và chứa đựng nguy cơ tiềm ẩn đối với môi trường và sức khỏe cộng đồng. Trong năm 2013, Lạng Sơn đã thu hút 1,929,000 lượt khách, tăng 6,5% so với cùng kỳ năm 2012, trong đó có 257,500 lượt khách quốc tế, doanh thu xã hội từ du lịch đạt khoảng 730 tỷ đồng.