Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHIÊN TÒA PHÚC THẨM DÂN SỰ 1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ Ý NGHĨA CỦA PHIÊN TÒA PHÚC THẨM DÂN SỰ 1. Khái niệm phiên tòa phúc thẩm dân sự Khái niệm "phiên tòa", đến nay chưa được văn bản pháp luật nào định nghĩa. Trong tiếng Việt "phiên tòa" được Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học giải thích là "lần họp để xét xử của Tòa án" [46, tr.
Tuy nhiên, có thể hiểu đây là lần họp đặc biệt và các trình tự, thủ tục của lần họp này do pháp luật về tố tụng quy định chặt chẽ mà ở đó HĐXX vụ án không thể tùy tiện thêm, bớt các bước trong quá trình xét xử hoặc làm sai các trình tự này. Nếu vi phạm các quy định đó, ít nhiều sẽ có ảnh hưởng đến kết quả xét xử. "Xét xử" - hiểu theo nghĩa khái quát là việc "xem xét và xử các vụ án" [46, tr. Như vậy, hiểu theo nghĩa chung nhất, hoạt động xét xử của Tòa án là hoạt động của các cá nhân có chức danh cụ thể (Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân) đại diện cho Tòa án được căn cứ vào pháp luật để xem xét những vấn đề trong phạm vi luật định để đưa ra những quyết định có tính bắt buộc.
Việc xét xử của Tòa án tương ứng với tính chất của thủ tục xét xử vụ án mà có các thủ tục diễn ra theo cấp xét xử như xét xử sơ thẩm được diễn ra tại Tòa án cấp sơ thẩm, xét xử phúc thẩm được diễn ra tại Tòa án cấp phúc thẩm. Mỗi thủ tục xét xử có một đặc thù riêng mang tính chất pháp lý khác nhau. Theo Từ điển tiếng Việt thì "phúc thẩm" là việc "Tòa án cấp trên xét xử lại một vụ án do cấp dưới đã xử sơ thẩm mà có chống án" [46, tr. Theo Từ điển Thuật ngữ luật học của Trường Đại học Luật Hà Nội thì "phúc thẩm là xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định dân sự sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, bị kháng nghị" [38, tr.
7 Cả hai cách giải thích trên, theo tác giả là chưa thỏa đáng. Khái niệm phúc thẩm có thể được hiểu ở các góc độ khác nhau, cả ở nghĩa hẹp và nghĩa rộng. Theo nghĩa hẹp, khái niệm phúc thẩm có thể được hiểu với một trong các nghĩa sau: phúc thẩm là một giai đoạn trong tố tụng dân sự (giai đoạn phúc thẩm); phúc thẩm là một chế định (chế định phúc thẩm) của tố tụng dân sự; phúc thẩm là một thủ tục tố tụng (thủ tục xét xử phúc thẩm). Theo nghĩa rộng, khái niệm phúc thẩm được hiểu ở cả ba nghĩa nêu trên: phúc thẩm là một giai đoạn, một chế định của tố tụng dân sự, đồng thời là một thủ tục xét xử.
Như vậy, xét về nội hàm thì khái niệm "phúc thẩm" là một khái niệm rộng nhất, bao hàm các khái niệm hẹp hơn: "giai đoạn phúc thẩm", "chế định phúc thẩm" và "thủ tục xét xử phúc thẩm". Dưới góc độ là giai đoạn phúc thẩm, phúc thẩm được hiểu là một giai đoạn của tố tụng dân sự, có tính độc lập và liên quan chặt chẽ với các giai đoạn tố tụng khác. So với các giai đoạn tố tụng khác, phúc thẩm có một số đặc trưng sau đây: - Tính chất của phúc thẩm là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án; - Nhiệm vụ trực tiếp của phúc thẩm là kiểm tra tính hợp pháp và có căn cứ của các bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị; - Các chủ thể tiến hành và tham gia tố tụng ở giai đoạn phúc thẩm bao gồm: Tòa án cấp phúc thẩm, Viện kiểm sát (VKS) cấp phúc thẩm (trong trường hợp bắt buộc phải tham gia); những người có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật; những người liên quan đến kháng cáo, kháng nghị và những người tham gia tố tụng khác mà Tòa án cấp phúc thẩm thấy cần thiết triệu tập tham gia phiên tòa. Ngoài ra, ở một mức độ nhất định, chủ thể tham gia ở giai đoạn tố tụng này còn bao gồm cả Tòa án cấp sơ thẩm (trong việc thông báo kháng cáo, kháng nghị, xác minh lí do kháng cáo quá hạn) và Viện 8 kiểm sát cấp sơ thẩm (trong việc kháng nghị bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật).
- Các thủ tục tố tụng được tiến hành ở giai đoạn phúc thẩm có những đặc thù như Tòa án phải thông báo kháng cáo, kháng nghị; trước khi tiến hành xét hỏi, một thành viên HĐXX tóm tắt nội dung vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm, nội dung kháng cáo, kháng nghị… - Giai đoạn phúc thẩm là giai đoạn tiếp theo của giai đoạn xét xử sơ thẩm. Nó được bắt đầu ngay sau khi bản án sơ thẩm được tuyên và kết thúc khi bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật hoặc được thay thế bằng bản án, quyết định phúc thẩm. Giai đoạn phúc thẩm có thể dài, ngắn khác nhau tùy thuộc vào việc kháng cáo, kháng nghị của các chủ thể và quá trình giải quyết đối với từng vụ án cụ thể. Ví dụ, đối với vụ án được xét xử trong trường hợp có mặt đầy đủ những người có quyền kháng cáo tại phiên tòa sơ thẩm, thì giai đoạn phúc thẩm sẽ kết thúc, nếu hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm theo quy định (30 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm) không có ai kháng cáo, kháng nghị vì thời hạn kháng cáo, kháng nghị đối với những người có mặt được tính kể từ ngày tuyên án.
Còn những vụ án xét xử trong trường hợp có đương sự vắng mặt thì giai đoạn phúc thẩm sẽ kết thúc, nếu hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị mà không có ai kháng cáo, VKS không kháng nghị. Tuy nhiên, thời gian không phải là 30 ngày kể từ ngày tuyên án mà có thể dài hơn vì nó phụ thuộc vào thời điểm người có quyền kháng cáo được tống đạt hợp lệ bản án, quyết định. Đối với trường hợp vụ án tuy có kháng cáo hoặc kháng nghị, nhưng sau đó người đã kháng cáo hoặc VKS kháng nghị rút toàn bộ kháng cáo, kháng nghị trước khi mở phiên tòa, thì giai đoạn phúc thẩm sẽ kết thúc ở thời điểm Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ việc xét xử phúc thẩm vụ án. Còn đối với các vụ án khác thì giai đoạn phúc thẩm kết thúc sau khi tuyên án phúc thẩm.
9 Dưới góc độ là chế định phúc thẩm, phúc thẩm được hiểu là một hệ thống những quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình giải quyết lại vụ án trong trường hợp bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị. Chế định phúc thẩm bao gồm các quy phạm pháp luật quy định về thủ tục kháng cáo, kháng nghị; thời hạn kháng cáo, kháng nghị; HĐXX phúc thẩm; những người tham gia phiên tòa phúc thẩm; phạm vi xét xử phúc thẩm; thủ tục tiến hành phiên tòa phúc thẩm v. Các quy phạm pháp luật này không chỉ bao gồm các quy định trong BLTTDS mà còn bao gồm cả các quy định trong các văn bản pháp luật khác như: Luật tổ chức Tòa án nhân dân (LTCTAND), Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (LTCVKSND). Dưới góc độ là thủ tục xét xử phúc thẩm, phúc thẩm được hiểu là một trong những hình thức giám đốc việc xét xử của Tòa án cấp trên đối với Tòa án cấp dưới.
Thủ tục xét xử phúc thẩm đối với một vụ án chỉ phát sinh khi bản án, quyết định sơ thẩm về vụ án đó bị kháng cáo hoặc kháng nghị theo quy định của pháp luật. Vì vậy, không phải tất cả các vụ án dân sự sau khi xét xử sơ thẩm đều được xem xét lại theo thủ tục này. Thủ tục phúc thẩm sẽ kết thúc sau khi Tòa án cấp phúc thẩm ra bản án hoặc quyết định về vụ án đó. Như vậy, giai đoạn phúc thẩm là một phần của quá trình tố tụng dân sự được phân biệt với những phần khác bởi những đặc điểm riêng.
Thủ tục xét xử phúc thẩm là những việc cụ thể phải làm theo một trật tự quy định để tiến hành giải quyết vụ án tại giai đoạn phúc thẩm. Thời điểm bắt đầu của giai đoạn phúc thẩm là cố định, không thay đổi và diễn ra trước thủ tục xét xử phúc thẩm: ngay sau khi tuyên bản án (quyết định) sơ thẩm. Thủ tục xét xử phúc thẩm có phát sinh hay không phụ thuộc vào ý chí của các chủ thể có quyền kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật và được xác định từ thời điểm Tòa án nhận được đơn kháng cáo, quyết định kháng nghị. Thời điểm kết thúc của giai đoạn phúc thẩm và thời điểm kết thúc của thủ tục xét xử phúc thẩm chỉ trùng nhau trong trường hợp vụ án có kháng cáo hoặc kháng 10 nghị: ngay sau khi tòa án cấp phúc thẩm ra bản án hoặc quyết định phúc thẩm.
Đối với vụ án không có kháng cáo hoặc kháng nghị, thủ tục phúc thẩm không phát sinh. Vì vậy, không có thời điểm bắt đầu và kết thúc thủ tục xét xử phúc thẩm. Thủ tục xét xử phúc thẩm bao gồm các công việc khác như: kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, chuẩn bị xét xử phúc thẩm, phiên tòa phúc thẩm, những việc tiến hành sau phiên tòa phúc thẩm. Phiên tòa phúc thẩm là một trong những việc nằm trong thủ tục xét xử phúc thẩm.
Theo Điều 242 BLTTDS quy định: "Xét xử phúc thẩm là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị" [2]. Như vậy, có thể đi đến kết luận: Phiên tòa phúc thẩm dân sự là phiên họp của Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án dân sự đã được Tòa án cấp dưới giải quyết bằng bản án hoặc quyết định chưa có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng cáo hoặc kháng nghị nhằm xác định tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án, quyết định đó. Đặc điểm của phiên tòa phúc thẩm dân sự Trong tố tụng dân sự có phiên tòa sơ thẩm, phiên tòa phúc thẩm, phiên tòa giám đốc thẩm và phiên tòa tái thẩm. Mỗi phiên tòa có những đặc điểm, nhiệm vụ và ý nghĩa riêng.
Việc nghiên cứu làm rõ các đặc điểm của phiên tòa phúc thẩm dân sự là rất cần thiết. Từ đó thấy được vị trí, vai trò của chúng trong tố tụng dân sự.