CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ DỰ ÁN THU PHÍ KHÔNG DỪNG ETC 1.1 Công nghệ thu phí không dừng ETC ở Việt Nam Khi xe dán thẻ e-Tag đi vào làn thu phí ETC, hệ thống thu phí sẽ kích hoạt camera chụp lại biển số. Đồng thời, nhóm Angten 1 phát tín hiệu để đọc thẻ e-Tag. Tiếp theo, hình ảnh và thông tin của xe được hệ thống gửi về trung tâm dữ liệu. Trung tâm sẽ kiểm tra thông tin trên thẻ và số dư tài khoản giao thông của chủ phương tiện.
Nếu tài khoản giao thông không đủ tiền, hệ thống sẽ kiểm tra tiếp tài khoản liên kết. Nếu xe đã dán thẻ e-Tag và tài khoản giao thông (hoặc tài khoản liên kết) đủ tiền, hệ thống sẽ xác nhận xe hợp lệ và trừ tiền. Sau đó, hệ thống phát tín hiệu đến nhóm Angten 2 để mở barrier. Chủ phương tiện sẽ nhận được tin nhắn thông báo về giao dịch và có thể đi qua trạm thu phí.
Hiện tại, trên thế giới 2 công nghệ thu phí không dừng được sử dụng phổ biến nhất là RFID (Radio frequency identification) và DSRC (Dedicated short-range communication). Trong đó, công nghệ DSRC được sử dụng rộng rãi tại châu Âu và Singapore, trong khi RFID được dùng ở phần lớn các nước còn lại. Cả hai công nghệ đều có ưu và nhược điểm, tuy nhiên công nghệ RFID được Bộ GTVT đánh giá là phù hợp nhất với văn hóa, môi trường giao thông tại Việt Nam, nhờ 03 ưu điểm là mức độ nhận diện chính xác cao, chi phí sử dụng thấp và dễ dàng triển khai lắp đặt. Hệ thống RFID gồm thiết bị đầu đọc RFID Reader trên các cổng long môn tại trạm thu phí, và thẻ định danh RFID gắn trên đèn hoặc kính phương tiện.
Khi xe đi qua trạm, đầu đọc sẽ nhận biết xe thông qua thẻ định danh và trừ số tiền tương ứng. Đối với mức độ chính xác, công nghệ RFID cho phép nhận thiết bị chuẩn xác đến trên 98% trong mọi điều kiện thời tiết, khói, bụi bẩn. Về mặt chi phí, mức phí triển khai dịch vụ cho khách hàng của VDTC hiện là 120.000 VND, thấp hơn rất nhiều nếu so với thiết bị đặt trong xe khi áp dụng công nghệ DSRC. Việc lắp đặt, triển khai RFID cũng rất đơn giản khi chỉ cần dán thẻ lên kính xe hoặc đèn xe, không cần duy trì nguồn 8 thiết bị như công nghệ DSRC.
Ưu điểm về chi phí, tính đơn giản lắp đặt là những yếu tố giúp dịch vụ dễ dàng triển khai mở rộng trên toàn quốc.9 Theo Bộ Giao thông Vận tải, thu phí không dừng ở Việt Nam sẽ gồm bốn giai đoạn. Hiện nay chúng ta đang ở giai đoạn 1, cố gắng tiến tới giai đoạn 2, xong đến giai đoạn 3, giai đoạn 4. Đến giai đoạn bốn, dự kiến từ 2026, các tuyến đường sẽ không còn trạm thu phí, không còn đảo thu phí mà chỉ duy trì giá long môn cùng các thiết bị đọc gắn trên giá. Phương tiện di chuyển các điểm này vẫn giữ nguyên tốc độ và được tự động tính phí đường bộ.
Công nghệ RFID đang được áp dụng hiện tại đủ điều kiện đọc dữ liệu khi xe di chuyển ở tốc độ cao mà không cần đi chậm hoặc dừng hẳn ở các trạm.2 Lợi ích của hệ thống thu phí không dừng Thứ trưởng Thọ cũng cho biết, khi thực hiện thu phí không dừng, sẽ khắc phục được các tồn tại đối với thu phí một dừng hiện nay. Thứ nhất, thể hiện sự phát triển của ngành giao thông Việt Nam là ứng dụng các công nghệ tiên tiến vào tổ chức và quản lý, đưa hệ thống thông minh vào hoạt động, văn minh và tiện lợi. Thứ hai, đem lại sự thuận tiện cho người dân về thời gian, thuận tiện khi dừng đỗ các trạm, làm tốt vấn đề môi trường. Khi qua trạm thủ công chúng ta mất vài ba phút dừng lại, trong điều kiện thời tiết bình thường không sao, nếu nắng mưa sẽ ảnh hưởng đến người điều khiển phương tiện.
Chúng ta sử dụng hình thức mới, chỉ việc đi qua, không phải mở cửa xe, dừng xe, rất thuận lợi. Thứ ba, tiết kiệm thời gian, tránh ùn tắc giao thông trên các tuyến.vn/kinh-doanh/thu-phi-khong-dung-tai-viet-nam-dang-dung-cong-nghe- gi-1076445.ldo 10 https://vnexpress.net/cong-nghe-thu-phi-khong-dung-o-viet-nam-so-voi-the-gioi- 4495346.html 9 Thứ tư, khi thực hiện công nghệ thu phí không dừng, chúng ta sẽ công khai, minh bạch doanh thu, các cơ quan giám sát lẫn nhau như nhà đầu tư, nhà cung cấp dịch vụ, ngân hàng, cơ quan quản lý nhà nước, đây là giải pháp tạo niềm tin cho nhân dân yên tâm thực hiện, rất công khai, minh bạch.3 Tình hình hiện nay Theo báo cáo tiến độ triển khai thu phí không dừng, Thứ trưởng Bộ GTVT Lê Đình Thọ cho biết, tổng số trên toàn quốc hiện nay cần triển khai 157 trạm với 915 làn thu phí. Trong đó có 16 trạm với 98 làn được cho phép không triển khai hoặc lùi thời gian do một số nguyên nhân như: Thời gian thu phí còn lại ngắn, điều kiện triển khai thu phí không hiệu quả, người dân phản đối do vị trí đặt trạm chưa hợp lý. Như vậy, còn lại 141 trạm/817 làn cần phải lắp hệ thống thu phí điện tử không dừng trên toàn quốc.
Tới thời điểm hiện nay đã thực hiện thu phí không dừng tại 113/141 trạm (đạt 80,14%), với tổng cộng 603/817 làn (đạt 73,8%). Trong đó, Bộ GTVT có tất cả 66/66 trạm đã được lắp đặt hệ thống thu phí không dừng (đạt 100%). Tuy nhiên số làn được lắp mới chỉ đạt 342/380 làn (90%), còn lại 38 làn chưa lắp đặt, nằm tại 13 trạm và sẽ được bổ sung khi cần thiết. Các địa phương có toàn bộ 47/47 trạm đều đã được lắp đặt ETC, nhưng số làn đã hoàn thành lắp đặt mới đạt 87,2% (246/282 làn).
Còn lại 36 làn nằm ở 7 trạm chưa lắp đặt. Đối với Tổng Công ty Đầu tư phát triển đường cao tốc (VEC), hiện mới lắp được 3/28 trạm (đạt 10,7%) với 15/155 làn cần phải lắp (đạt 9,7%), thấp hơn nhiều so với bình quân chung cả nước. Như vậy, tổng cộng số làn còn phải lắp đặt hệ thống thu phí không dừng trong thời gian tới là 214/817 làn (26,2%) tại 48 trạm. Trong đó: Bộ GTVT cần triển khai lắp đặt tại 10 38 làn (17,8%).
Các địa phương cần lắp đặt 36 làn (16,8%). Tổng Công ty Đầu tư phát triển đường cao tốc cần phải lắp đặt thiết bị tại 140 làn chiếm 65,4%.vn/bao-dam-hoan-thanh-he-thong-thu-phi-khong-dung-tren-toan- quoc-truoc-31-7-2022- htm 11 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Đánh giá hiệu quả dự án với nhóm chi tiêu tĩnh 2.1 Chỉ tiêu chi phí cho một đơn vị sản phẩm Chỉ tiêu chi phí cho một đơn vị sản phẩm 𝐶𝑑 được xác định bằng tỉ số giữa chi phí về vốn cố định và vốn lưu động trong một năm trên số lượng sản phẩm trong năm của dự án, phương án nào có chi phí cho một đơn vị sản phẩm nhỏ nhất là phương án tốt nhất: 1 𝑉.1) Trong đó: N – năng suất hằng năm; V – vốn đầu tư cho TSCĐ; i – suất chiết khấu; 𝐶𝑛 – chi phí sản xuất hàng năm.2 Chỉ tiêu lợi nhuận tính cho một đơn vị sản phẩm Chỉ tiêu lợi nhuận tính cho một đơn vị sản phẩm 𝐿𝑑 được xác định bằng: 𝐿𝑑 = 𝐺𝑑 − 𝐶𝑑 (2.2) Trong đó: 𝐺𝑑 – giá bán 1 đơn vị sản phẩm Phương án nào có chỉ tiêu lợi nhuận tính cho một đơn vị sản phẩm lớn nhất là phương án tốt nhất 2.3 Chỉ tiêu mức doanh lợi của một đồng vốn đầu tư D 𝐿 𝐷= 𝑉𝑜 +𝑉𝑚 /2 12 (2.3) Phương án có chỉ tiêu lớn nhất là phương án tốt nhất. Trong đó: L – lợi nhuận của một năm hoạt động dự án; 𝑉𝑜 – vốn đầu tư cho TSCĐ loại ít hao mòn; 𝑉𝑚 – vốn đầu tư cho TSCĐ loại hao mòn nhanh.4 Chỉ tiêu thời hạn thu hồi vốn đầu tư Chỉ tiêu thời hạn thu hồi vốn đầu tư nhờ lợi nhuận 𝑇𝐿 𝑉 𝑇𝐿 = 𝐿 (2.4) Chỉ tiêu thời hạn thu hồi vốn nhờ lợi nhuận và khấu hao 𝑇𝐿𝐾 : 𝑉 𝑇𝐿𝐾 = 𝐿 + 𝐾𝑛 (2.5) Phương án có chỉ tiêu này nhỏ nhất là phương án tốt nhất. Trong đó: V- số vốn đầu tư cho dự án; 𝐾𝑛 – khấu hao cơ bản hằng năm.
Các chỉ tiêu thời hạn thu hồi vốn biểu hiện mức an toàn tài chính của kinh doanh nhưng không được sử dụng một mình vì mục tiêu chính của kinh doanh vẫn là lợi nhuận. 13 Các chỉ tiêu tĩnh có ưu điểm là đơn giản, phù hợp cho khâu lập dự án tiền khả thi (báo cáo đầu tư xây dựng công trình) hoặc cho các dự án nhỏ, ngắn hạn không đòi hỏi mức chính xác cao.2 Đánh giá hiệu quả dự án với mức chỉ tiêu động 2.1 Chỉ tiêu hiệu số thu chi NPW, NFW, NAW Ba chỉ tiêu trên là các chỉ tiêu lợi nhuận. Khi áp dụng các chỉ tiêu này, trước khi tính toán phải kiểm tra sự đánh giá của phương án sau đó mới lựa chọn trong số các phương án đánh giá đó một phương án tốt nhất. Nguyên tắc khi so sánh lựa chọn phương án tốt nhất: - Trước hết phải là phương án đáng giá, tức là phương án được chấp nhận.
Phương án có chỉ tiêu đạt lớn nhất chính là phương án tốt nhất. Nguyên tắc phân tích so sánh các chỉ tiêu hiệu số thu chi được tổng quá hoá như sau: NPW= (Tổng thu – Tổng chi)P ≥ 0 và NPW= “Max” NFW= (Tổng thu – Tổng chi)F ≥ 0 và NFW= “Max” NAW= f(NPW) ≥ 0 và NAW= “Max” 2.1 Chỉ tiêu hiệu số thu chi quy về thời điểm hiện tại NPW (NPV – Net Present Value) Đây là một phương pháp dễ hiểu, được sử dụng rộng rãi vì toàn bộ thu nhập và chi phí của phương án trong suốt thời kì phân tích được quy đổi về một giá trị tương đương ở hiện tại. Giả sử có một dự án tiêu biểu với dòng thu chi được thể hiện trong hình sau: 14 Nếu ta kí hiệu mọi khoản thu (mũi tên chỉ lên trên) là B và mọi khoản chi (mũi tên chỉ xuống dưới) là C thì tiêu chuẩn về sự đánh giá của phương án là: 𝐵𝑡 𝐶𝑡 𝑁𝑃𝑊 = ∑𝑛𝑡=0 − ∑𝑛𝑡=0 ≥0 (1+𝑖)𝑡 (1+𝑖)𝑡 (2.6) Trong đó: 𝐵𝑡 - khoản thu ở năm t; 𝐶𝑡 - chi phí bỏ ra ở năm t, đây là chi phí vận hành, không kể khấu hao; n - tuổi thọ quy định của phương án; i - suất chiết khấu. Suất chiết khấu là lãi suất dùng để tích luỹ dòng tiền quá khứ hoặc chiết giảm dòng tiền tương lai về giá trị hiện tại tương đương.
Suất chiết khấu thường được thể hiện dưới dạng % và do không biết trước nó có thể thay đổi theo hướng nào nên trong tất cả các đánh giá, thông thường ta coi nó là cố định.