MỞ ĐẦU Tính cấp thiết của đề tài Ùn tắc giao thông là một trong những vấn nạn chung của các đô thị trên thế giới, kể cả các đô thị có hệ thống giao thông hiện đại bậc nhất. Theo các số liệu thống kê [18], ùn tắc giao thông gây thiệt hại to lớn cho các quốc qia trên thế giới, Ở nước Mỹ, mỗi năm tổn thất kinh tế do ùn tắt giao thông gây ra hơn 160 tỷ USD tương đương với 7 tỷ giờ làm và hàng triệu lít nhiên liệu. Ở Trung Quốc, đất nước đông dân nhất trên thế giới tình trạng ùn tắc giao thông còn tồn tệ hơn, điển hình ở quốc gia này là vụ việc ùn tắc giao thông diễn ra vào tháng 8/2010 trên cao tốc Bắc Kinh – Tây Tạng, hướng đi về phía thủ đô Bắc Kinh, Trung Quốc với tổng cộng là 100km đường cao tốc ùn tắc xãy ra trong vòng 21 ngày với số lượng phương tiện tham gia giao thông lên đến 30.000 phương tiện đã gây thiệt hại hết sức to lớn đối với nền kinh tế của quốc gia này. Còn Việt Nam chúng ta hiện nay, theo đánh giá từ Viện chiến lược và phát triển giao thông vận tải tại các thành phố lớn như Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, ùn tắt giao thông ngày càng gây thiệt hại nghiêm trọng gây thất kinh tế và các vấn đề môi trường cho thành phố Hà Nội ước tính mỗi năm khoảng 1-1,2 tỷ USD, còn ở thành phố Hồ Chí Minh gần 1,3 tỷ USD [18].
Vấn đề ùn tắc giao thông là một trong những vấn đề lớn gây ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế xã hội của nước ta. Với mục đích đưa công nghệ thông tin ứng dụng vào thực tế cuộc sống, cá nhân học viên xin chọn đề tài “Phát hiện điểm ùn tắc giao thông bằng video” để làm luận văn, hy vọng sẽ đóng góp tích cực về mặt lý luận và thực tiễn trong công tác điều tiết và phân luồng giao thông ở Việt Nam hiện nay. Tổng quan về nghiên cứu: Trong những thập niên gần đây, công nghệ nhận diện đối tượng trong ảnh kỹ thuật số ngày càng phát triển, nổi trội lên là các nghiên cứu về phát hiện và phân lớp phương tiện giao thông. Ở các nghiên cứu này, các camera giám sát được sử dụng 2 lắp đặt trên các tuyến đường giao thông như các cao tốc, tuyến đường trục chính với lưu lượng phương tiện đông đúc,…Từ đó, xác định các tham số về giao thông đưa ra những thông tin có ích cho việc phân loại phương tiện và điều tiết giao thông như các tham số về âm thanh, mật độ và vận tốc các phương tiện giao thông theo thời gian thực (realtime).
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Trong phạm vi luận văn sẽ tập trung vào các đối tượng đó là bài toán phát hiện, phân loại và đếm mật độ phương tiện giao thông thông qua quá trình xử lý hình ảnh trong video để phát hiện các điểm ùn tắc giao thông. Bản chất của quá này là sự phân tách các video thành các khung hình và phát hiện đối tượng chuyển động trong cảnh video. Đối tượng nghiên cứu luận văn: bài toán phát hiện, theo dõi và phân loại đối tượng chuyển động. Các video được sử dụng trong luận văn là video được thu thập trong thực tế quay được trên các tuyến đường ở thành phố Hà Nội.
3 TỔNG QUAN VỀ PHÁT HIỆN ĐIỂM ÙN TẮC GIAO THÔNG 1. Ý nghĩa của việc phát hiện điểm ùn tắc giao thông. Như chúng ta đã biết, mạng lưới giao thông mang lại cho loài người kết nối về kinh tế và xã hội giữa các vùng lãnh thổ trong một quốc gia hoặc các quốc gia với nhau được xây dựng với mật độ dày đặc và đồ sộ giúp cho các quốc gia và vùng lãnh thổ phát triển kinh tế - xã hội. Theo các số liệu thống kê hằng năm tổng thiệt hại mỗi năm do ùn tắc giao thông gây ra cho nền kinh tế của các quốc gia trên thế giới là cực kỳ to lớn.
Còn ở Việt Nam, tại các thành phố lớn ùn tắc giao thông gây thiệt hại cho đất nước chúng ta hàng tỷ USD mỗi năm theo báo cáo thống kê của Viện Chiến Lược và phát triển giao thông vận tải [18], tại hai thành phố lớn là TP Hà Nội và TP Hồ Chính Minh thiệt hai ước tính mỗi năm lên tới 1.2 tỷ USD cùng với đó là các vấn đề về môi trường do lượng khí thải của các phương tiện giao thông gây ra. Theo nghiên cứu của Trung tâm giao thông đô thị và nông thôn cho thấy, Hà Nội mỗi năm tốc độ tăng trưởng phương tiện giao thông so với tốc độ tăng trưởng hạ tầng cơ sở đang có nhiều bất cập làm gia tăng gánh nặng lên cơ sở hạ tầng giao thông. Mặt khác, ý thức của người tham gia giao thông còn kém tạo ra áp lực lớn đến giao thông thủ đô làm cho giao thông của TP Hà Nội ngày càng ùn tắc hơn [20]. Do đó việc phát hiện sớm các điểm ùn tắc giao thông để lực lượng chức năng có thể nhanh chóng điều tiết và phân luồng giao thông làm giảm ùn tắc, giảm đáng kể các thiệt hại về kinh tế do ùn tắc giao thông gây ra là một nhiệm vụ hết sức quan trọng và cần thiết.
Ngày nay, với sự tiến bộ của lĩnh vực công nghệ thông tin, trong đó điểm hình là sự phát triển của trí tuệ nhân tạo; các phương pháp học máy và học sâu được áp dụng để giải quyết các bài toán giao thông. Các bài toán giao thông thường trải qua các bước cơ bản là phát hiện, phân loại và đếm mật độ phương tiện giao thông từ đó đưa ra dự đoán về khả năng phát hiện các điểm ùn tắc giao thông dựa trên video là xem xét tại một thời điểm, trong vùng quan tâm, có những loại 4 phương tiện gì, số lượng tương ứng. Về ứng dụng, bài toán này thuộc nhóm các ứng dụng liên quan đến lĩnh vực giao thông thông minh. Yêu cầu cơ bản của bài toán là với dữ liệu đầu vào là video giao thông, yêu cầu đầu ra là phân lớp phương tiện giao thông trong vùng quan sát (ôto, xe gắn máy và các phương tiện giao thông thô sơ khác) và dự báo tại thời điểm và vị trí đó có xảy ra ùn tắc giao thông hay không.
Như vậy, việc phát hiện sớm các điểm ùn tắc giao thông có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, từ các thông tin báo về các điểm ùn tắc giao thông sẽ giúp cho các lực lượng quản lý giao thông để các lực lượng này nhanh chóng thực hiện điều tiết và phân luồng giao thông làm giảm bớt đi thiệt hại mà ùn tắc giao thông gây ra cho nền kinh tế của nước ta. Các nghiên cứu liên quan Những năm gần đây, với sự tiến bộ của khoa hoc công nghệ đã có rất nhiều phương pháp để giải quyết các bài toán giao thông, nhưng chủ yếu được chia thành 3 nhóm phương pháp chính: nhóm phương pháp xác định cơ bản (detection based methods), nhóm phương pháp phát hiện chuyển động (motion based methods) và nhóm phương pháp kết hợp (holistic methods). - Nhóm phương pháp phát hiện cơ bản (detection base methods) thường sử dụng video để xác định mật độ và vị trí phương tiện giao thông và sau đó thực hiện nhiệm vụ đếm số lượng phương tiện. Nổi bật lên trong nhóm này có các nghiên cứu sau: nhóm nghiên cứu Ozkurt và Camci sử dụng phương pháp mạng nơron (neural network methods) để thực hiện bài toán đếm và phân lớp phương tiện giao thông từ video thu được [13].
Bộ lọc Kalman (Kalman filter) được sử dụng để đánh giá mật độ phương tiện giao thông. Ngoài ra nhóm nghiên cứu còn sử dụng mạng nơron tích chập nhanh (Faster RCNNs) để tính toán đánh giá mật độ giao thông [17]. Tuy nhiên, kết quả thu được còn chưa được như mong muốn đối với những video có chất lượng thấp. Tiến xa hơn nữa là nhóm nghiên cứu Adu-Gyamfi et al.
sử dụng các phương pháp học sâu như mạng nơron tích chập sâu (DCNNs) để phân lớp và đếm số lượng phương tiện giao thông [4]. Gần đây, Zhang và Wu sử dụng kết hợp 5 cả hai phương pháp học sâu và tối ưu hóa để thực hiện đếm lưu lượng giao thông từ video chất lượng thấp. - Nhóm phương pháp phát hiện chuyển động (motion based methods) được dùng để đánh giá lưu lượng giao thông. Các nhóm nghiên cứu như Asmaa et al.
sử dụng các tham số microscopic trích xuất từ phát hiện chuyển động trong video [6]. Ngoai ra họ cũng sử dụng toàn bộ chuyển động trong video để trích xuất ra các tham số macroscopic. Tuy nhiên những phương pháp phát hiện chuyển động trên cho kết quả với độ chính xác không cao. - Nhóm phương pháp kết hợp (holistic methods) dùng để đánh giá trạng thái giao thông trên toàn bộ ảnh bức ảnh thu được.
Nhóm nghiên cứu Gonclaves et al. phân lớp video ùn tắt giao thông sử dụng bộ lọc Gabor (Gabor Filters) [8]. Lempitsky vaf Zisserman thực hiện phép chuyển đổi tuyến tính (linear transformation) trên mỗi pixel đăc trưng để đánh giá mật độ giao thông dựa trên mỗi khung ảnh của video [11]. Tuy nhiên, phương pháp này mang lại độ chính xác thấp với những video có góc rộng.
Để hiểu rõ hơn cách thức mà các nhà nghiên cứu đã sử dụng liên quan đến các nhóm nghiên cứu kể trên. Chúng ta sẽ điểm qua các nghiên cứu nổi bật liên quan đến việc phát hiện và xử lý ùn tắc giao thông điển hình như sau: 1. Sử dụng video từ camera giám sát giao thông Nhóm nghiên cứu Ozkurt và Camci [13] tiến hành nghiên cứu “Tự động đánh giá mật độ giao thông và phân lớp phương tiện sử dụng mạng nơron (NNs)” thực hiện tại thành phố Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ. Công ty quản lý giao thông đô thị của thành phố Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ đã lắp đặt và sử dụng 500 camera giám sát giao thông trên các trụ đèn giao thông với độ cao 5 mét để tăng cường giám sát và điều tiết giao thông nhằm trích xuất các thông tin hữu ích từ video thu thập được như loại phương tiện và mật độ các phương tiện tham gia giao thông nhằm phục phụ mục đích điều tiết và phân luồng giao thông.
6 Trước đây, cũng đã có một số nghiên cứu được áp dụng thành phố Istanbul bằng cách sử dụng các cảm biến sóng, radar, hồng ngoại,.Tuy nhiên, việc thực hiện và triển khai đối với các phương pháp này tương đối phức tạp, phát sinh nhiều chi phí và khó khăn đối với các khu vực rộng lớn. Trong nghiên cứu này các nhà khoa học đã thực hiện phân lớp phương tiện và tính toán mật độ phương tiện giao thông sử dụng mô hình nền (Model Background).