Tổng quan nghiên cứu

Trong tiến trình 30 năm đầu thế kỷ XX, văn học Việt Nam trải qua cuộc chuyển mình sâu sắc từ phạm trù trung đại sang hiện đại. Xuất bản liên tục suốt 17 năm từ năm 1917 đến năm 1934 với quy mô 210 số báo phát hành, Tạp chí Nam Phong do học giả Phạm Quỳnh làm chủ bút giữ vị trí là cơ quan ngôn luận bách khoa có tầm ảnh hưởng sâu rộng bậc nhất. Vấn đề cốt lõi mà đề tài tập trung giải quyết là làm sáng tỏ thái độ nước đôi đầy phức tạp của Phạm Quỳnh đối với di sản văn chương cổ điển: một mặt nỗ lực sưu tầm, phiên âm, dịch thuật để bảo tồn tinh hoa Hán Nôm; mặt khác chủ trương canh tân, du nhập lý thuyết văn học phương Tây và phê phán tính quy phạm gò bó của thi pháp trung đại.

Mục tiêu cụ thể của luận văn hướng đến việc phục dựng hệ thống tác phẩm văn học truyền thống trên 210 số Nam Phong, đồng thời phân tích vai trò của nhà trước tác Phạm Quỳnh trong công cuộc bồi đắp nền quốc văn mới. Phạm vi khảo sát bao quát toàn bộ mảng bài viết, bản dịch và khảo cứu văn học trung đại xuất bản trên tạp chí từ số 1 tháng 7 năm 1917 đến số 210 tháng 12 năm 1934 tại Hà Nội. Nghiên cứu mang ý nghĩa học thuật to lớn khi cung cấp cái nhìn công bằng, toàn diện về di sản của hơn 30 công trình học thuật tiền bối từng đánh giá đa chiều về hiện tượng này. Qua đó, luận văn khẳng định Tạp chí Nam Phong đã trở thành chiếc cầu nối lịch sử, chuyển tải bền bỉ mạch nguồn văn hóa truyền thống vào dòng chảy văn học hiện đại của dân tộc.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết tiếp biến văn hóa và khái niệm vượt gộp để kiến giải hiện tượng giao thoa Đông - Tây trong giai đoạn giao thời 1900-1930. Đây là mô hình lý thuyết giải thích cách thức văn học Việt Nam tiếp thu thi pháp văn học Pháp trên nền tảng duy trì và phát triển bản sắc dân tộc ở trình độ cao hơn. Bên cạnh đó, luận văn triển khai lý thuyết loại hình tác giả nhằm phân định sự chuyển dịch từ mẫu nhà nho tài tử, chí sĩ duy tân sang tầng lớp trí thức Tây học và nhà văn chuyên nghiệp.

Bốn khái niệm then chốt được xây dựng làm trục nghiên cứu xuyên suốt gồm:

  • Tính chất giao thời văn học: Sự song hành, cạnh tranh và tích tụ giữa hai nền văn học cũ - mới với hai công chúng và quan niệm thẩm mỹ khác biệt.
  • Chủ thuyết Thổ nạp Âu - Á: Đường lối dung hòa tinh hoa tư tưởng phương Tây với cội rễ văn hóa cổ truyền do Phạm Quỳnh khởi xướng và kiên trì thực thi suốt gần 18 năm.
  • Di sản văn học trung đại: Toàn bộ hệ thống trước tác Hán Nôm, thể loại diễn xướng dân gian và quan niệm văn dĩ tải đạo của quá khứ.
  • Thái độ nước đôi: Trạng thái tư tưởng vừa tôn vinh giá trị cổ điển như Truyện Kiều vừa phê phán tính ước lệ, công thức của văn chương cử nghiệp.
Tiến trình giao thoa văn học đầu thế kỷ XX:
[Văn học trung đại (Hán - Nôm)] 
               ↓ (Tiếp biến & Dung hòa)
[Tạp chí Nam Phong (Chủ thuyết Thổ nạp Âu - Á)] 
               ↓ (Hiện đại hóa ngôn ngữ & Thể loại)
[Nền Quốc văn mới (Chữ Quốc ngữ)]

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của công trình bao gồm toàn văn 210 số Tạp chí Nam Phong lưu trữ tại Thư viện Quốc gia và Viện Thông tin Khoa học Xã hội, cùng hơn 30 chuyên khảo về lịch sử văn học Việt Nam. Cỡ mẫu nghiên cứu được thiết lập qua việc khảo sát toàn diện 100% các kỳ phát hành nguyệt san, kết hợp phương pháp chọn mẫu chủ đích đối với hơn 300 đơn vị bài viết, văn bản dịch thuật và mục sao lục văn thơ cổ.

Hệ thống phương pháp phân tích chủ đạo gồm:

  • Phương pháp thống kê - phân loại: Phân nhóm các thể loại văn học truyền thống xuất hiện trên tạp chí nhằm đo lường chính xác mật độ xuất hiện của từng tác gia.
  • Phương pháp lịch sử - xã hội học: Đặt thái độ của Phạm Quỳnh vào bối cảnh chính trị, văn hóa phức tạp sau Chiến tranh thế giới thứ nhất.
  • Phương pháp so sánh văn bản học: Đối chiếu trực tiếp câu chữ của 90 bài thơ Tú Xương đăng trên Nam Phong với 136 bài trong các ấn bản tuyển tập xuất bản sau năm 1975.

Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm bảo đảm tính khách quan tuyệt đối, tránh định kiến tư tưởng và phục dựng chuẩn xác diện mạo văn bản học của các tác phẩm cổ. Toàn bộ tiến trình nghiên cứu được triển khai thực hiện liên tục trong thời gian 24 tháng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát hệ thống trên 210 số báo đã mang lại bốn phát hiện khoa học mang tính đột phá về quy mô và cách thức bảo tồn di sản văn học dân tộc trên Nam Phong:

  • Hệ thống hóa đồ sộ thơ văn chữ Nôm của các tác gia trung đại: Tạp chí đăng tải trọn vẹn 65 bài thơ trong Bạch Vân thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm qua 8 kỳ phát hành; 59 bài tiêu biểu trong Hồng Đức quốc âm thi tập; 76 bài thơ Nôm của Nguyễn Khuyến trong 16 số báo; và 31 thi phẩm mang chí làm trai của Nguyễn Công Trứ.
  • Phục dựng diện mạo thơ ca Trần Tế Xương: Đăng tải liên tục 90 bài thơ của Tú Xương trên 15 số báo, chiếm tỷ lệ khoảng 66% tổng số tác phẩm được sưu tầm trong các tuyển tập hiện đại. Đối chiếu văn bản cho thấy độ chuẩn xác về từ ngữ giữa bản đăng Nam Phong và các ấn bản sau này đạt mức tương đồng trên 95%.
  • Công bố các kiệt tác dịch thuật Hán văn quy mô lớn: Đăng trọn bộ 28 chương tiểu thuyết Lĩnh Nam dật sử qua 27 kỳ báo liên tục từ số 48 đến số 76; đăng thiên du ký Thượng kinh ký sự của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác trong 8 số liên tiếp; cùng hơn 132 bài thơ văn thời Lý - Trần và 85 bài thơ thời Hồng Đức.
  • Sưu tầm phong phú văn học diễn xướng dân gian: Giới thiệu thể loại hát nói cổ qua hơn 18 kỳ báo; công bố 7 bài hát sẩm tiêu biểu ở mục Văn uyển; và đăng tải trọn vẹn vở tuồng hát Hồ Xuân Hương khóc Tổng Cóc gồm 4 cảnh diễn với 24 điệu hát cổ truyền.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện trên phản ánh rõ nét tính chất lưỡng diện trong tư duy học thuật của Phạm Quỳnh. Việc dành một dung lượng trang báo vượt trội cho văn học trung đại chứng minh chủ bút Nam Phong xem văn học cổ điển là gốc rễ để xây dựng nền quốc văn độc lập. Tuy nhiên, sự xuất hiện đồng thời của các bài bình luận thơ mới của phương Tây cho thấy ông luôn khát khao đưa văn học Việt Nam thoát khỏi tính chất phi ngã của văn chương nhà nho.

Về phương diện trực quan hóa, toàn bộ dữ liệu khảo sát có thể được mô hình hóa qua hai hình thức biểu đạt khoa học:

  • Biểu đồ phân bố tần suất: Minh họa sự dịch chuyển dung lượng giữa các thể loại qua ba giai đoạn: giai đoạn 1917-1920 tập trung cao độ vào thơ Nôm và hát nói (chiếm khoảng 55% dung lượng văn học); giai đoạn 1921-1925 chuyển dịch mạnh sang dịch tiểu thuyết và ký sự chữ Hán (chiếm khoảng 40%); giai đoạn 1926-1934 gia tăng tỷ trọng lý luận phê bình và khảo cứu lịch sử.
  • Bảng đối chiếu dị bản văn bản học: Trình bày chi tiết sự khác biệt từng câu chữ giữa các bản chép tay truyền khẩu và bản in quốc ngữ trên Nam Phong đối với các thi phẩm của Tú Xương và Nguyễn Khuyến.

So với các ấn phẩm cùng thời như Đông Dương tạp chí ra đời năm 1913 hay Tri Tân sau này, Tạp chí Nam Phong vượt trội hoàn toàn về tính hệ thống, tính sư phạm và ý thức bảo tồn văn bản cổ một cách chuẩn mực.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu toàn diện về di sản học thuật Tạp chí Nam Phong, bốn giải pháp cụ thể được kiến nghị thực hiện:

  • Số hóa và lập chỉ mục điện tử toàn diện: Thư viện Quốc gia phối hợp cùng Viện Nghiên cứu Hán Nôm thực hiện quét quang học và số hóa đạt chuẩn 100% toàn bộ 210 số Tạp chí Nam Phong, hoàn thành hệ thống tìm kiếm từ khóa trong thời gian 12 tháng.
  • Hiệu đính và tái bản có phê bình các bản dịch Hán Nôm: Các nhà xuất bản chuyên ngành cùng các viện nghiên cứu tiến hành rà soát, khảo dị đối với hơn 300 tác phẩm dịch thuật cổ trên Nam Phong để xuất bản bộ tùng thư di sản trong lộ trình 24 tháng tới.
  • Tích hợp chuyên đề báo chí giao thời vào chương trình đào tạo đại học: Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng các trường đại học khối khoa học xã hội xây dựng học phần chuyên sâu 3 tín chỉ về vai trò của báo chí đầu thế kỷ XX đối với tiến trình hiện đại hóa văn học, áp dụng từ năm học tiếp theo.
  • Ứng dụng công nghệ xử lý ngôn ngữ tự nhiên phân tích ngữ liệu: Nhóm nghiên cứu liên ngành ngôn ngữ học và công nghệ thông tin xây dựng kho ngữ liệu số 210 tập san nhằm phân tích sự biến đổi từ vựng tiếng Việt giai đoạn 1917-1934 trong thời hạn 36 tháng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho bốn nhóm độc giả chuyên biệt:

  • Học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Văn học, Lịch sử, Văn hóa học: Khai thác kho ngữ liệu đã được thống kê, định lượng từ 210 số báo để phục vụ các đề tài nghiên cứu về tiến trình giao thời và hiện đại hóa văn học đầu thế kỷ XX.
  • Giảng viên đại học và giáo viên Ngữ văn tại các trường trung học phổ thông: Sử dụng tư liệu khảo cứu chuẩn xác về các tác gia Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Nguyễn Công Trứ và Nguyễn Du để làm phong phú bài giảng văn học trung đại và cận đại.
  • Chuyên gia văn bản học và dịch thuật cổ văn Hán Nôm: Tham khảo phương pháp phiên âm, đối chiếu dị bản và kỹ thuật chuyển ngữ các tác phẩm cổ điển như Lĩnh Nam dật sử, Thượng kinh ký sự.
  • Nhà nghiên cứu lịch sử báo chí và truyền thông đại chúng: Phân tích mô hình tòa soạn bách khoa, cấu trúc chuyên mục đa ngữ và kỹ thuật xuất bản nguyệt san trong môi trường báo chí đầu thế kỷ XX.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao nghiên cứu về Phạm Quỳnh và Nam Phong từng có sự phân hóa quan điểm gay gắt?

Trong giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1975, do hoàn cảnh chiến tranh và các góc nhìn xã hội học chính trị, các nhà nghiên cứu ở hai miền có đánh giá khác nhau về vai trò của Phạm Quỳnh. Sau năm 1975 và đặc biệt từ thập niên 1990 trở lại đây, giới học thuật đã nhìn nhận khách quan, công bằng hơn về những đóng góp văn hóa to lớn của ông.

Tạp chí Nam Phong đã bảo tồn những tác gia thơ Nôm nào có số lượng bài nhiều nhất?

Tác gia Nguyễn Khuyến được giới thiệu với 76 bài thơ Nôm qua 16 số báo; tiếp theo là nhà thơ Tú Xương với 90 bài thơ và phú qua 15 số; Nguyễn Bỉnh Khiêm với 65 bài trong Bạch Vân thi tập qua 8 số; và Nguyễn Công Trứ với 31 bài thơ tiêu biểu.

Biểu hiện rõ nhất của thái độ nước đôi ở Phạm Quỳnh là gì?

Phạm Quỳnh một mặt nhiệt thành ca tụng Truyện Kiều và chủ trương dịch thuật, lưu giữ văn thơ cổ; mặt khác ông thẳng thắn phê phán thể thơ Đường luật gò bó, chê trách tính chất thiếu chân thực của văn chương khoa cử và khuyến khích học tập tiểu thuyết, kịch nghệ phương Tây.

Giá trị lớn nhất của bộ phận dịch thuật chữ Hán trên Nam Phong là gì?

Bộ phận này đã chuyển ngữ thành công sang chữ quốc ngữ các bộ tiểu thuyết cổ như Lĩnh Nam dật sử gồm 28 chương cùng các tập danh tác ký sự như Thượng kinh ký sự, giúp đại bộ phận công chúng không biết chữ Hán vẫn tiếp cận sâu sắc di sản cha ông.

Các văn bản thơ Tú Xương trên Nam Phong có độ tin cậy như thế nào?

Khảo sát so sánh giữa 90 bài thơ Tú Xương trên Nam Phong với 136 bài trong tuyển tập xuất bản năm 1996 cho thấy sự trùng khớp gần như tuyệt đối về cấu trúc và câu từ, khẳng định Nam Phong là nguồn tư liệu gốc có giá trị văn bản học hàng đầu.

Kết luận

  • Khảo sát toàn diện và hệ thống hóa thành công 210 số phát hành của Tạp chí Nam Phong trong suốt 17 năm liên tục từ năm 1917 đến năm 1934.
  • Thống kê, định lượng chi tiết kho tàng văn học Hán Nôm đồ sộ với hàng trăm tác phẩm của hơn 20 tác gia tiêu biểu, nổi bật là Nguyễn Khuyến với 76 bài và Tú Xương với 90 bài thơ.
  • Làm sáng tỏ chủ thuyết Thổ nạp Âu - Á cùng thái độ nước đôi đầy biện chứng của chủ bút Phạm Quỳnh trong việc dung hòa truyền thống và cách tân hiện đại.
  • Cung cấp nguồn tư liệu văn bản học có độ xác tín cao, làm sáng tỏ tiến trình chuẩn hóa chữ quốc ngữ và hiện đại hóa các thể loại văn xuôi, thơ ca.
  • Xác lập góc nhìn khoa học, khách quan và toàn diện về vị trí lịch sử không thể thay thế của báo chí giao thời đối với nền văn học dân tộc.

Công trình tạo tiền đề học thuật vững chắc cho các dự án nghiên cứu chuyên sâu về báo chí học thuật giai đoạn 1900-1945. Độc giả và giới nghiên cứu quan tâm đến lịch sử văn học nước nhà hãy tiếp tục khai phóng, khám phá kho tàng tư liệu quý báu trên Tạp chí Nam Phong nhằm bồi đắp thêm những hiểu biết sâu sắc về cội nguồn văn hóa dân tộc.