Chương 1 NGUYỄN TRÃI - “KHÍ PHÁCH” VÀ “TINH HOA” CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM Nguyễn Trãi (1380- 1442) là một nhân vật toàn tài hiếm có trong lịch sử Việt Nam thời phong kiến. Ông là bậc anh hùng dân tộc, nhà thơ, nhà văn kiệt xuất, nhà tư tưởng lớn, nhà chính trị, ngoại giao, nhà sử học và địa lí học tài năng, là danh nhân văn hóa thế giới. Có thể nói, con người ông là “khí phách”, là “tinh hoa” của dân tộc Việt Nam. Nguyễn Trãi có những đóng góp to lớn cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, cho sự phát triển của văn hóa, văn học dân tộc.
Nhưng ông cũng là người có rất nhiều trăn trở và phải chịu những oan khiên thảm khốc dưới thời phong kiến. Mặc dù vậy, sự nghiệp văn học của Nguyễn Trãi với nhiều tác phẩm lớn, có giá trị, đặc biệt là Quốc âm thi tập, đã khẳng định thiên tài văn học Nguyễn Trãi là một hiện tượng văn học kết tinh truyền thống văn học dân gian, văn thơ Lí- Trần, đồng thời mở đường cho cả một giai đoạn phát triển mới của văn học dân tộc. Thời đại Nguyễn Trãi - những biến động lớn lao Giữa con người và thời đại luôn tồn tại mối quan hệ biện chứng. Mỗi cá nhân đều được sinh ra trong một hoàn cảnh lịch sử cụ thể, đều gắn với một thời đại nhất định.
Chính những đặc điểm của tồn tại xã hội, hoàn cảnh sống mang tính lịch sử- cụ thể đó sẽ ảnh hưởng đến phẩm chất, tài năng cũng như hệ tư tưởng, ý thức của cá nhân. Trong điều kiện lịch sử đó, bằng các hoạt động thực tiễn của mình, qua các mối quan hệ xã hội, con người tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển cả thể lực và tư duy trí tuệ, bộc lộ toàn bộ bản chất xã hội của mình. Để hiểu rõ hơn về con người, về sáng tác của Nguyễn Trãi, chúng ta cùng ngược dòng thời gian, trở về với lịch sử dân tộc cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV- một giai đoạn đầy hào hùng với những biến động lớn lao. Uy thế vương triều nhà Trần (1225 - 1400) đang đi vào giai đoạn suy vong.
Tất cả danh thời “nhị đế” của nhà Trần giờ này chỉ còn là những kí ức xa xăm, những luyến tiếc sâu sắc trong trí nhớ của nhân dân. Từ thời Trần Dụ Tông (1341 - c 12 1369), người ta đã thấy kế tiếp nhau leo lên ngôi là một loạt các vị vua bất kể tuổi tác, bất kể họ có hay không có năng lực trị vì đất nước. Chính trị rối ren, đời sống nhân dân khổ cực. Mâu thuẫn nội tại đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho các nước láng giềng thực hiện ý đồ xâm lược.
Mối hiểm hoạ cứ thế tràn xuống từ hai miền Nam - Bắc. Ở phía Nam, với sự suy yếu của nhà Trần, quan hệ bang giao với vương quốc Chiêm Thành ngày một xấu đi rõ rệt. Ở phía Bắc, chỉ mấy năm sau khi biết rõ nội tình nhà Trần, nhà Minh đã tiến hành bành trướng nước ta. Trong lúc giặc Minh đang ráo riết để thực hiện ý đồ của mình, Hồ Quý Ly đã ép Trần Thiếu Đế nhường ngôi cho mình, nhanh chóng lật đổ nhà Trần.
Hồ Quý Ly lên ngôi vua với mong muốn chấn chỉnh lại kỉ cương triều đình, bảo vệ đất nước. Bên cạnh những chính sách chủ trương để thực hiện khát vọng xây dựng một quốc phú binh cường, họ Hồ đã phạm sai lầm lớn, để mất lòng dân. Và nhân “họ Hồ chính sự phiền hà/ Nên trong nước lòng dân oán giận”, năm 1407, giặc Minh đã kéo gần 80 vạn binh xâm lược Đại Ngu, cơ đồ của nhà Hồ sụp đổ hoàn toàn. Hồ Quý Ly bị quân Minh bắt, dân tộc bị đẩy vào thảm nô lệ trong suốt 20 năm ròng.
Sau mười năm kháng chiến gian khổ, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do minh chủ Lê Lợi cùng với sự phò tá đắc lực của Nguyễn Trãi đã toàn thắng. Cuộc khởi nghĩa đã mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc, giang sơn thu về một mối, cả dân tộc bước vào cuộc trung hưng lần thứ hai. Không chỉ Tổ quốc dựng “đài xuân dân tộc” mà chế độ phong kiến cũng đạt đến độ hoàng kim nhất ở nửa cuối thế kỷ XV. Khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi không thể tách rời với tên tuổi Nguyễn Trãi.
Sau khi lên ngôi hoàng đế (1428), Lê Lợi đã phong cho Nguyễn Trãi làm Quan phục hầu, được ban quốc tính (họ Lê). Nhưng giữa lúc “trăm họ” đang chờ đợi một cuộc sống thái bình với vua hiền, tướng giỏi thì bản chất của chế độ đã bộc lộ. Triều đình nhà Lê đầy rẫy những mâu thuẫn gay gắt giữa các phe phái hòng thôn tính, thanh trừ, lật đổ lẫn nhau. Bản thân Lê Lợi - vốn là một vị tướng tài ba trên chiến trường - nay lại nghe lời xiểm nịnh của bọn gian thần, sát hại một số công thần như: Trần Nguyên Hãn (1429), Phạm Văn Xảo (1430).
Riêng Nguyễn Trãi cũng bị nghi ngờ và đã từng bị giam cầm (1430). Đến đời Lê Thái Tông, tình hình chia rẽ lại c 13 càng căng thẳng. Sống trong môi trường chật hẹp, giẫm đạp lên nhau, Nguyễn Trãi không thể có một cơ hội nào để thi thố tài năng nữa. Cuộc đời của một con người vì dân, vì nước này bị thời đại khép lại bằng “vụ án Trại Vải” mà lịch sử gọi là án “thiên cổ kì oan”.
Tìm hiểu Nguyễn Trãi, chúng tôi không tìm hiểu ông như một cá nhân- nhà trí thức yêu nước nào đó - mà tìm hiểu ông với tư cách là một nhân vật lịch sử, một nhà văn hoá lớn với những tác phẩm đã phản ánh cả một thời đại lịch sử, với những tư tưởng ở nhiều điểm như là phát ngôn cho cả một dân tộc thời Nguyễn Trãi. Chính thời đại cuối Trần, đầu Lê đã tạo ra người anh hùng- bậc vĩ nhân, làm rạng rỡ non sông đất nước ta- Nguyễn Trãi. Cuộc đời Nguyễn Trãi - cống hiến và bi kịch Nguyễn Trãi (1380- 1442) hiệu là Ức Trai. Cha là Nguyễn Ứng Long (tức Nguyễn Phi Khanh), tên hiệu là Nhị Khê, vốn gốc ở làng Chi Ngại, huyện Phượng Nhỡn (nay thuộc Chí Linh, Hải Dương), sau này di cư sang làng Ngọc Ổi (sau đổi tên thành Nhị Khê), huyện Thượng Khê (nay là huyện Thường Tín, Hà Nội).
Mẹ là Trần Thị Thái, con gái quan tư đồ Trần Nguyên Đán. Sinh ra đã có tư chất thông minh, ngay từ nhỏ, Nguyễn Trãi đã tỏ ra rất ham học. Điều đó đã được cha ông nói đến trong bài thơ Gia viên lạc: Cố viên loạn hậu hữu tiên lư, Lục tuế nhi đồng phả ái thư. Nghĩa là: Vườn xưa sau loạn còn nhà cũ, Sáu tuổi con thơ rất thích sách.
Thế nên tuổi mới chừng đôi mươi mà Nguyễn Trãi đã tinh thông các thư sử. Nhà sử học Phan Huy Chú đã nhận xét: “Ông [Nguyễn Trãi] tuổi trẻ đã văn chương nổi tiếng. Kinh sử, bách gia, binh thư thao lược, đều am hiểu cả”[3]. Nguyễn Trãi xuất thân trong một gia đình có hai truyền thống lớn: truyền thống yêu nước và văn hóa, văn học.
Dòng tộc của ông nhiều đời là võ quan cao cấp c 14 dưới nhiều triều đại, với truyền thống cương trực, khảng khái, khí tiết, mang lập trường thân dân, đã từng đứng về phía người dân đấu tranh dũng cảm chống lại cường quyền, bạo lực. Dòng họ Nguyễn với thủy tổ là Định Quốc công Nguyễn Bặc, người đã cùng với Thái tể Đinh Điền phò tá Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn mười hai sứ quân. Cụ nội là Nguyễn Công Luật đã từng giữ chức Giám quân Thiên Trường. Ông nội là Nguyễn Minh Du giữ chức Quản quân Thiết hổ- một trong năm vị tướng đứng đầu năm đội quân cấm binh bảo vệ hoàng thành Thăng Long.
Ông ngoại là Chương Túc Quốc Thượng hầu Tư đồ Trần Nguyên Đán (1325-1390), hoàng tộc nhà Trần, là cháu bốn đời của Chiêu Minh đại vương Trần Quang Khải - con trai thứ của Trần Thái Tông, người sáng lập nhà Trần. Từ nhỏ, đã nổi tiếng thông minh hơn người, tính cách khiêm nhường, cầu thị, luôn kiên trì học tập, rèn luyện nên Trần Nguyên Đán sớm trở thành một tài năng lớn, một tấm gương về phẩm chất đạo đức, giàu lòng vị tha, có hoài bão lớn. Bên cạnh những đóng góp to lớn về chính trị, quân sự, ngoại giao, Trần Nguyên Đán còn là một nhà văn hóa, nhà thơ lớn đời hậu Trần. Ông thông hiểu kinh sách, nghiên cứu sâu sắc các học thuyết Nho, Phật, Lão.
Ông là nhà lịch pháp lớn đầu tiên của nước ta quan tâm nghiên cứu nông lịch. Trước tác của ông có Bách thế thông khảo, Băng Hồ ngọc hác tập.hiện còn 51 bài thơ chép trong Toàn Việt thi lục. Khi triều Trần suy tàn, ông xin về nghỉ ở Côn Sơn (1385) sống ẩn dật, vui với trúc thông, làm bạn với thơ phú. Tuy vậy, ông vẫn lo việc nước, biểu lộ qua nhiều bài thơ thấm đượm niềm cảm thông sâu sắc với cuộc sống vất vả của nhân dân.
Sau này, Nguyễn Trãi chịu ảnh hưởng rất lớn từ ông ngoại, quan tư đồ Trần Nguyên Đán. Thân phụ Nguyễn Trãi là Nguyễn Ứng Long (1336-1408), sau đổi tên là Nguyễn Phi Khanh là người thông minh, ham học, thi đỗ nhị giáp tiến sĩ nhưng gặp nhiều trắc trở trên con đường công danh, sự nghiệp. Ông ngoại và cha là những người trực tiếp ảnh hưởng đến Nguyễn Trãi, đặc biệt là ông ngoại. Nguyễn Trãi đã ảnh hưởng sâu sắc từ người ông tư tưởng yêu nước thương dân, tư tưởng thân dân.
Ý thức dân tộc trong con người Ức Trai rất toàn diện, sâu sắc, trong kháng chiến và trong cả thời bình. c 15 Sinh ra trong một gia đình có nhiều thuận lợi cả về điều kiện vật chất và môi trường giáo dục, song ngay từ nhỏ Nguyễn Trãi đã phải chịu nhiều mất mát đau thương về mặt tình cảm. Lên 5 tuổi mẹ mất, lên 10 tuổi, ông ngoại- người vốn gắn bó với Nguyễn Trãi ngay từ khi Nguyễn Trãi mới lọt lòng lại qua đời. Những vui buồn của thuở thiếu thời đã in sâu vào tâm hồn Ức Trai.
Lớn lên, Nguyễn Trãi lại chứng kiến những sự đổi thay của triều đình phong kiến mà cụ thể là nhà Hồ cướp ngôi nhà Trần, xác lập địa vị thống trị của mình (1400). Có thể nói, thời đại và gia đình trở thành hai nhân tố quan trọng ảnh hưởng sâu sắc đến sự hình thành, phát triển nhân cách cũng như tài năng của Nguyễn Trãi- một tài năng toàn diện, một tư tưởng trung quân ái quốc bền chặt, một tâm hồn giàu xúc cảm, nhân ái. Năm 1400, Nguyễn Trãi thi đỗ Thái học sinh.