Chương 1, Luật Giáo dục nghề nghiệp: “Đào tạo nghề nghiệp là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học hoặc nâng cao trình độ nghề nghiệp.” 4 Theo đó, học nghề được đề cập trong luận văn là giáo dục đào tạo kĩ năng, kĩ thuật chuyên môn thuộc nhóm ngành kỹ thuật cụ thể, tạo ra nguồn nhân lực kỹ thuật trực tiếp sản xuất, dịch vụ có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo. Học nghề được đề cập trong luận văn khác với hệ thống giáo dục trong lĩnh vực khoa học với đặc trưng thường tập trung vào lý thuyết và khái niệm khoa học trừu tượng.2 Lý thuyết về đầu tư cho giáo dục Theo Mincer (1974) sự đầu tư của cá nhân thì tiêu tốn nhiều thời gian. Mỗi khoản thời gian cộng thêm cho việc đi học tại trường lớp hay đào tạo nghề sẽ làm chậm lại khoản thời gian mà cá nhân tạo ra thu nhập và làm giảm thời gian làm việc trong đời nếu tuổi nghỉ hưu là cố định. Sự trì hoãn tạo ra thu nhập và giảm khoản thời gian kiếm tiền là chi phí.
Chi phí thời gian cộng với số tiền chi trực tiếp trong thời gian này cho việc đi học được xem là tổng chi phí đầu tư. Vì những chi phí đầu tư này sẽ không diễn ra nếu như không có khả năng đem lại những khoản thu nhập lớn hơn trong tương lai. Tỉ lệ này là tỉ suất thu hồi nội bộ (Internal Rate of Return – IRR) của đầu tư. 4 Luật Giáo dục nghề nghiệp (2014), đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 27 tháng 11 năm 2014 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Trong bước đầu tiên là phân tích hiệu quả của đầu tư vào việc đi học, Mincer giả định rằng không có một khoản đầu tư nào thêm sau khi hoàn tất việc học và đồng thời nguồn thu nhập là cố định trong suốt thời gian làm việc.
Vì những thay đổi trong thu nhập được quyết định bởi khoản đầu tư ròng trong tổng vốn của cá nhân, do đó khái niệm “ròng” được dùng trong mọi phân tích. Trong phần này, khấu hao được giả định là bằng không trong suốt cả thời gian đi học và đầu tư ròng bằng không trong suốt quãng đời làm việc. Thông qua phương trình Mincer Trong đó: là thu nhập. là thu nhập của một người nào đó không có giáo dục và không có kinh nghiệm.
là năm kinh nghiệm về tiềm năng thị trường lao động. Mincer sử dụng phương pháp bình phương tối thiểu để ước lượng hàm hồi qui tuyến tính, trong đó sử dụng logarithm tự nhiên của thu nhập làm biến phụ thuộc và số năm đi học, số năm kinh nghiệm và bình phương của nó làm các biến độc lập. Hệ số ước lượng cho số năm đi học cho ta biết phần trăm gia tăng của tiền lương khi thời gian đi học tăng thêm một năm. Thông qua giả định rằng các cá nhân không khác nhau về năng lực bẩm sinh.
Từ đó, hệ số ước lượng cho số năm đi học có thể được lý giải là suất sinh lợi của việc đi học. Hệ số ước lượng cho số năm công tác xác định tác động ước tính của kinh nghiệm tích lũy theo thời gian đối với tiền lương. Hệ số dương của biến số năm kinh nghiệm và hệ số âm của biến số năm kinh nghiệm bình phương có nghĩa là gia tăng kinh nghiệm giúp làm tăng tiền lương nhưng với tốc độ giảm dần. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Trong nghiên cứu của Mincer cho ta thấy việc đầu tư cho giáo dục là có tác động đến thu nhập, tạo ra kì vọng trong tương lai.
Qua đó sẽ ảnh hưởng đến quyết định đầu tư cho việc học để có thu nhập kì vọng trong tương lai. Vì sự đầu tư này là bao gồm cả chi phí trực tiếp trong khoảng thời gian học, thời gian cho việc học và việc mất cơ hội kiếm thu nhập trong thời gian đi học. Vũ Trọng Anh (2008) đã ứng dụng hàm thu nhập Mincer để ước lượng suất sinh lợi cho giáo dục ở Việt Nam; Bùi Quang Bình (2008) cũng ứng dụng hàm Mincer xem xét tình hình thu nhập và vai trò của vốn con người đối với thu nhập của hộ sản xuất cà phê của hộ gia đình. Nghiên cứu đã chỉ ra sự ảnh hưởng tích cực của vốn con người tới thu nhập của lao động.
Yếu tố vốn con người cũng ảnh hưởng tích cực tới thu nhập của hộ sản xuất cà phê ở Tây Nguyên.3 Thuyết hành vi dự định Thuyết hành vi dự định là sự mở rộng của thuyết hành vi hợp lý TRA. Thuyết hành vi hợp lý TRA (Theory of Reasoned Action) được Ajzen và Fishbein xây dựng từ năm 1967 và được hiệu chỉnh mở rộng theo thời gian. Mô hình TRA (Ajzen và Fishbein, 1975) cho rằng hành vi của con người thì được quyết định bới ý định thực hiện hành vi đó. Ý định đó bị ảnh hưởng bởi hai yếu tố: Thái độ của một cá nhân đối với hành vi và tiêu chuẩn chủ quan liên quan đến hành vi (sự đánh giá của những người xung quanh đối với việc thực hiện hành vi).
Trong mô hình TRA, thái độ (Attitude) được đo lường bằng niềm tin của cá nhân về kết quả của hành vi (tác động tốt hay xấu) và tầm quan trọng của hành vi. Mức độ tác động của yếu tố chuẩn chủ quan (Subjective Norms) đến xu hướng hành vi của cá nhân được đo lường thông qua niềm tin của cá nhân về quan điểm những người xung quanh có liên quan đến hành vi của cá nhân (như gia đình, bạn bè, đồng nghiệp,…); động lực thúc đẩy cá nhân làm theo quan điểm những người xung quanh. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Lý thuyết về hành vi dự định (Ajzen, 1991) là sự mở rộng của TRA khắc phục hạn chế trong việc giải thích những hành vi nằm ngoài kiểm soát. Yếu tố này xuất phát từ bên trong từng cá nhân (năng lực, quyết tâm…) hay từ bên ngoài từng cá nhân (cơ hội, điều kiện về kinh tế, thời gian…).
Nguồn lực và cơ hội càng nhiều thì cá nhân càng có ít cản trở và việc kiểm soát nhận thức đối với hành vi càng lớn. Lý thuyết TPB được thể hiện ở hình 2.3 Thuyết hành vi dự định (TPB) Thái độ Tiêu chuẩn Ý định Hành vi chủ quan Kiểm soát nhận thức đối với hành vi ( Nguồn : Ajzen, I., The theory of planned behaviour, 1991) Trần Thị Lam Phương, Phạm Ngọc Thúy (2011) đã ứng dụng thuyết hành vi dự định nghiên cứu yếu tố nào tác động đến ý định chia sẻ tri thức của các bác sĩ trong bệnh viện. Kết quả nghiên cứu cho thấy tác động mạnh nhất đến ý định chia sẻ tri thức là thái độ, kế đến là kiểm soát hành vi, hai yếu tố chuẩn chủ quan là ảnh hưởng của lãnh đạo và ảnh hưởng của đồng nghiệp; Ming-Shan Hsu (2012) sử dụng các lý thuyết về hành vi dự định để khám phá mối quan hệ kế hoạch nghề nghiệp cho sinh viên cao TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 đẳng học nghề khách sạn tại Đài Loan. Nghiên cứu cho thấy thái độ có ảnh hưởng tích cực đến ý định; các chỉ tiêu chủ quan có ảnh hưởng tiêu cực đến ý định; nhận thức kiểm soát hành vi có ảnh hưởng tích cực đến ý định; ý định có ảnh hưởng tích cực đến hành vi; và kiểm soát hành vi có ảnh hưởng tích cực đến hành vi; Nguyễn Xuân Cường, Nguyễn Xuân Thọ, Hồ Huy Tựu (2014) cũng đã ứng dụng lý thuyết về hành vi dự định phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự quan tâm tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của người lao động buôn bán nhỏ, lẻ tại tỉnh Nghệ An.4 Nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn học nghề hay học ĐH,CĐ Dựa vào những lý thuyết trên, khung phân tích nhằm xác định những nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn học nghề hay học ĐH, CĐ sẽ dựa trên 3 nhóm nhân tố: Thái độ, tiêu chuẩn xã hội và các đặc điểm của cá nhân.4 Nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn học nghề hay học ĐH, CĐ Thái độ Lựa chọn Tiêu chuẩn xã hội học nghề Đặc điểm cá nhân ( Nguồn : Tác giả ) 2.1 Thái độ Theo lý thuyết hành vi dự định (Ajzen, 1991) thì thái độ dẫn đến hành vi là mức độ nhận thức của cá nhân về hành vi đó mà cá nhân đánh giá là tích cực hay tiêu cực.
Vậy thái độ đối với việc học nghề chính là nhận thức, quan điểm, đánh giá của cá nhân đó đối với việc học nghề. Đối với từng cá nhân thì nhận thức, đánh giá đối với việc học TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 nghề là khác nhau về lợi ích mà việc học nghề mang lại. Nhận thức và đánh giá đó tạo ra động lực để cá nhân lựa chọn học nghề, một số nghiên cứu cho thấy thái độ có ảnh hưởng tích cực đến ý định.2 Tiêu chuẩn xã hội Theo lý thuyết hành vi dự định (Ajzen, 1991) thì yếu tố tiêu chuẩn xã hội bị ảnh hưởng bởi quan điểm hay áp lực từ những người xung quanh có liên quan đến hành vi của cá nhân. Động lực để cá nhân lựa chọn học nghề phụ thuộc ít nhiều bởi quan điểm những người xung quanh có liên quan đến việc lựa chọn học nghề.
Nếu như quan điểm của những người xung quanh là ủng hộ đối với việc học nghề thì khả năng cá nhân chọn học nghề là rất lớn, tiêu chuẩn chủ quan có ảnh hưởng tiêu cực đến ý định.3 Đặc điểm cá nhân Những biến đặc điểm cá nhân được khảo sát trong luận văn là: Khả năng thực hiện và những biến số về kinh tế xã hội. Khả năng thực hiện Biến khả năng thực hiện là nhân tố bổ sung vào lý thuyết hành vi dự định, là cảm nhận của cá nhân về khả năng bản thân kiểm soát và thực hiện hành vi cho trước. Khả năng thực hiện đối với từng cá nhân là khác nhau. Đây là biến số ảnh hưởng đến động lực chọn học nghề hay học ĐH, CĐ.
Biến số kinh tế xã hội Lựa chọn học nghề hay học ĐH, CĐ có liên quan đến đặc điểm kinh tế của hộ gia đình như thu nhập, tuổi tác, giới tính, trình độ học vấn, kích thước hộ…Thực tế thì hoàn cảnh gia đình có ảnh hưởng đến sự lựa chọn của cá nhân (Mei Tang, Nadya A. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.