Chương 1 CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NGUYÊN TẮC TỰ DO HỢP ĐỒNG 1. HỢP ĐỒNG - HÌNH THỨC PHÁP LÝ CỦA QUAN HỆ HÀNG HOÁ - TIỀN TỆ Trong lịch sử phát triển của nền sản xuất xã hội có hai hình thức kinh tế: Kinh tế tự nhiên và kinh tế hàng hóa. Kinh tế tự nhiên là hình thức sản xuất mà sản phẩm lao động chỉ dùng để thỏa mãn nhu cầu của con người sản xuất trong nội bộ đơn vị kinh tế. Đối lập với hình thức kinh tế này là kinh tế hàng hóa.
Sản xuất hàng hóa là sản xuất xã hội trong đó mối quan hệ kinh tế giữa người sản xuất biểu hiện qua thị trường, qua việc trao đổi sản phẩm và dịch vụ. Hàng hóa có thể thỏa mãn nhu cầu sản xuất, tiêu dùng của con người và thông qua việc trao đổi, con người có thể thỏa mãn những nhu cầu trên. Quá trình phát triển lâu dài của sản xuất và trao đổi hàng hóa đã làm xuất hiện tiền tệ. Tiền làm thước đo giá trị vì bản thân nó cũng là một loại hàng hóa đặc biệt có giá trị như các hàng hóa khác.
Giá trị của mỗi hàng hóa được biểu hiện bằng một số tiền nhất định là giá cả. Mặc dù giá cả của hàng hóa thường thay đổi biến động nhưng tổng số gía cả thì luôn bằng tổng số giá trị của hàng hóa. Do vậy, việc trao đổi hàng hóa và tiền tệ là một bộ phận của nền sản xuất hàng hóa, một khâu quan trọng trong quá trình tái sản xuất xã hội. Quá trình trao đổi đó sẽ làm phát sinh, chấm dứt quyền tài sản của chủ thể hay nói cách khác quan hệ hàng hóa – tiền tệ (quan hệ tài sản) là quan hệ giữa người với người gắn liền với một tài sản nhất định.
Quan hệ này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong sự phát triển của xã hội loài người. Để tồn tại và phát triển, mỗi cá nhân cũng như mỗi tổ chức phải tham gia nhiều mối quan hệ xã hội khác nhau. Trong đó, việc các 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com bên thiết lập với nhau những quan hệ, để qua đó chuyển giao cho nhau các lợi ích vật chất nhằm đáp ứng nhu cầu kinh doanh, tiêu dùng, đóng một vai trò quan trọng và là một tất yếu đối với đời sống xã hội. Tuy nhiên, việc chuyển giao các lợi ích vật chất đó không phải tự nhiên hình thành bởi tài sản (vốn là hiện thân của các lợi ích vật chất) không thể tự tìm đến nhau để thiết lập các quan hệ.
Các quan hệ tài sản chỉ được hình thành từ những hành vi có ý chí của các chủ thể. Trong bộ Tư bản, C.Mác viết: “Tự chúng, hàng hóa không thể đi tới thị trường và trao đổi với nhau được. Muốn cho những vật đó quan hệ như những hàng hóa thì những người giữ hàng hóa phải đối xử với nhau như những người mà ý chí nằm trong các vật đó…mối quan hệ ý chí đó, mà hình thức của nó là bản giao kèo dù có được củng cố thêm bằng pháp luật hay không cũng vậy - là mối quan hệ ý chí phản ảnh mối quan hệ kinh tế”. Như vậy, ngay từ thuở sơ khai trong lịch sử phát triển của mình, hợp đồng đã được coi là “bản giao kèo” được thiết lập trên cơ sở tự do ý chí của các chủ thể trong quan hệ trao đổi sản phẩm hàng hóa.
Sự hình thành nhà nước đồng thời kéo theo sự xuất hiện của pháp luật. Khi được pháp luật điều chỉnh, các quan hệ này trở thành quan hệ pháp luật và “bản giao kèo” trở thành hình thức pháp lý của nó. Về tên gọi, “bản giao kèo” được gọi là khế ước hay hợp đồng. Có thể khẳng định rằng điều kiện ra đời của nền sản xuất hàng hóa cũng chính là những điều kiện ra đời của hợp đồng hay nói cách khác trao đổi sản phẩm hàng hóa dẫn đến sự ra đời của hợp đồng.
Hợp đồng là hình thức pháp lý của quan hệ hàng hóa – tiền tệ. Ví dụ: Nhu cầu trao đổi sản phẩm sẽ dẫn đến việc thiết lập hợp đồng mua bán; nhu cầu về đất đai sẽ dẫn đến việc thiết lập các hợp đồng như hợp đồng chuyển nhượng đất, hợp đồng thuê đất… Nếu việc giao kết hợp đồng không phát sinh lợi nhuận, không hàm chứa lợi ích vật chất trong đó mà chỉ chứa đựng 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lợi ích tinh thần thì các chủ thể có thể thiết lập hợp đồng cho mượn, hợp đồng tặng cho tài sản… Hiện nay khi nền kinh tế ngày càng phát triển, xã hội ngày càng văn minh thì phần lớn các quan hệ xã hội đều được điều chỉnh bằng hợp đồng, chính vì thế chế định Hợp đồng càng được tôn trọng và hoàn thiện hơn. Kinh tế thị trường là nền kinh tế của sự giao lưu năng động của hàng hóa - dịch vụ giữa người sản xuất và tiêu dùng. Hình thức pháp lý thích hợp và có hiệu quả trong việc đảm bảo sự vận động của hàng hóa, dịch vụ đó chính là Hợp đồng.
Thực tiễn của nền kinh tế thị truờng trên thế giới từ xưa đến nay đều khẳng định vai trò của hợp đồng. Nó luôn giữ vai trò quan trọng bởi lẽ khi mọi hàng hóa, dịch vụ được tự do chuyển dịch trên thị trường thì sự tự do thể hiện ý chí của các bên cũng phải được tôn trọng trên cơ sở các quy định của pháp luật. Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về hợp đồng và ở mỗi nước, tùy theo độ tương hợp mà các khía cạnh của hợp đồng sẽ được chú trọng tới ở những mức độ khác nhau. Tuy nhiên, tất cả những khái niệm cũng như nhận định về hợp đồng ở hầu hết các quốc gia đều phản ánh một quan niệm thống nhất về bản chất của hợp đồng.
Đó chính là sự gắn kết chặt chẽ của hai yếu tố: * Yếu tố thứ nhất: Sự thỏa thuận (Đây là yếu tố thể hiện sự thống nhất trong việc bày tỏ ý chí của các bên, theo đó, nội dung và các vấn đề khác của hợp đồng được hình thành) * Yếu tố thứ hai: Mục đích của sự thỏa thuận (Mục đích của việc thiết lập các quan hệ hợp đồng là nhằm làm phát sinh một hậu quả pháp lý mà các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng hướng tới. Tất nhiên, hậu quả pháp lý đó phải hợp pháp. Với quan niệm này thì mọi quan hệ đảm bảo các yếu tố trên về bản chất đã được coi là quan hệ hợp đồng, không phụ thuộc vào chủ thể tham gia hay hình thức thể hiện. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tóm lại, Hợp đồng là một trong những sản phẩm lâu đời nhất liên quan đến giao lưu dân sự.
Ngay từ khi sự trao đổi hàng hóa xuất hiện trong xã hội loài người thì hợp đồng đã đóng vai trò là chuẩn mực, định hướng cách xử sự cho các bên tham gia quan hệ nhằm đảm bảo cho sự vận động của quan hệ hàng hóa - tiền tệ diễn ra nhanh chóng và hiệu qủa. VỊ TRÍ CỦA NGUYÊN TẮC TỰ DO HỢP ĐỒNG TRONG VIỆC THIẾT LẬP CÁC QUAN HỆ HÀNG HÓA - TIỀN TỆ 1. Các nguyên tắc ký kết hợp đồng và vị trí của nguyên tắc tự do hợp đồng 1. Các nguyên tắc ký kết hợp đồng Xét dưới góc độ ngôn ngữ học Việt Nam thì nguyên tắc được hiểu là “điều cơ bản định ra, nhất thiết phải tuân theo trong một loạt việc làm”(Từ điển Tiếng Việt) Xét dưới góc độ khoa học pháp lý thì nguyên tắc là những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt trong hệ thống pháp luật thể hiện tập trung những yêu cầu và đòi hỏi của Nhà nước trong việc điều chỉnh pháp luật đối với nhóm quan hệ xã hội nào đó.
Việc thực hiện các nguyên tắc mang tính chất bắt buộc chung đối với tất cả mọi người, mọi cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội có liên quan. Có thể nói, Hợp đồng là một chế định quan trọng trong hệ thống pháp luật của bất cứ Quốc gia nào. Tuy có nhiều điểm khác nhau về lịch sử phát triển, về một số quy định cụ thể liên quan đến chủ thể tham gia hợp đồng, cách phân loại, song về lý luận, chế định hợp đồng có rất nhiều điểm tương đồng. Và, sự tương đồng đó bắt nguồn từ chính bản chất của hợp đồng là một công cụ đảm bảo sự bình đẳng, tự nguyện của các chủ thể tham gia quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh.
Để hợp đồng thực hiện được tốt vai trò của mình trong các quan hệ pháp luật thì đòi hỏi chúng ta phải xây dựng, hoàn thiện các nguyên tắc cơ bản cho nó. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Để các giao lưu dân sự, kinh tế, thương mại thực hiện có hiệu quả trên thực tế thì đòi hỏi các chủ thể pháp luật phải thiết lập các quan hệ hợp đồng (giao kết hợp đồng) theo những nguyên tắc và trình tự nhất định. Giao kết hợp đồng là việc các chủ thể bày tỏ ý chí bằng cách trao đổi ý kiến với nhau về những nội dung, điều kiện của hợp đồng để đi đến sự thỏa thuận trong việc cùng nhau xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ qua lại của các bên trong quan hệ hợp đồng. Các hành vi giao dịch trong giao kết hợp đồng bao gồm: Đề nghị giao kết hợp đồng (được quy định tại điều 396-BLDS 1995 và điều 51-Luật thương mại 1997); Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng (được quy định tại điều 403-BLDS 1995 và điều 51/2- Luật thương mại 1997); Thời điểm giao kết hợp đồng và hiệu lực của hợp đồng (được quy định tại điều 403,404-BLDS 1995, điều 55 và 56-Luật thương mại 1997, điều 11- Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989).
Tóm lại, Khi tiến hành giao kết hợp đồng, các chủ thể pháp luật phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản, bao gồm: nguyên tắc tự do, bình đẳng, hợp tác, thiện chí và trung thực. Nguyên tắc tự do Thuyết tự do y chí trong giao kết hợp đồng xuất hiện từ thế kỷ thứ XVIII và nằm trong hệ thống các quan điểm của nền triết học ánh sáng. Một số người cho rằng quan điểm này là của Kant, nhà triết học người Đức đưa ra. Thuyết tự do ý chí trong giao kết hợp đồng xuất phát từ quan điểm cho rằng ý chí của con người là tối thượng và tự chủ.
Chỉ các hành vi xuất phát từ ý chí của một người mới có hiệu lực ràng buộc đối với người đó. Một người chỉ bị ràng buộc khi người đó muốn như vậy và ràng buộc theo cách mà người đó muốn.