Chương 1: Người kể chuyện trong văn xuôi về chiến tranh của Đình Kính. Chương này có nội dung từ trang 11 đến trang 39 (bao gồm 28 10 trang), trình bày các lí thuyết của các nhà nghiên cứu về người kể chuyện và nghiên cứu các dạng người kể chuyện trong văn xuôi về chiến tranh của Đình Kính, đó là người kể chuyện đồng sự và người kể chuyện dị sự. − Chương 2: Điểm nhìn trần thuật trong văn xuôi về chiến tranh của Đình Kính. Chương này có nội dung từ trang 40 đến trang 64 (bao gồm 24 trang), trình bày các lí thuyết, quan điểm về điểm nhìn trần thuật của các nhà nghiên cứu, các dạng điểm nhỉn trần thuật trong văn xuôi về chiến tranh của Đình Kinh, đó là điểm nhìn zero và điểm nhìn nội quan cố định.
− Chương 3: Không gian – thời gian trần thuật trong văn xuôi về chiến tranh của Đình Kính. Chương này có nội dung từ trang 65 đến trang 99 (bao gồm 34 trang), bao gồm 2 mục lớn là không gian trần thuật và thời gian trần thuật trong văn xuôi về chiên tranh của Đình Kính. Ở mỗi mục người viết đều trình bày các lí thuyết nền tảng về không gian và thời gian đồng thời tìm ra đặc trưng cơ bản của không – thời gian trong các sáng tác văn xuôi của Đình Kính. NGƯỜI KỂ CHUYỆN TRONG VĂN XUÔI VỀ CHIẾN TRANH CỦA ĐÌNH KÍNH 1.
Người kể chuyện Người kể chuyện – narrator – là một trong phạm trù cơ bản của tự sự học. Người kể chuyện là thuật ngữ quan trọng khi giải mã tác phẩm văn học. Một truyện kể không thể tồn tại nếu thiếu người kể chuyện, mặc dù vai trò và các hình thức của người kể chuyện trong truyện kể vô cùng phong phú, linh hoạt. Trong bất kì tác phẩm truyện kể nào, người kể chuyện đồng thời vừa là người giữ vai trò giới thiệu, dẫn dắt câu chuyện, vừa là người điều khiển nhận định về câu chuyện, chi phối ngôn ngữ của nhân vật.
Điều đó có nghĩa rằng đề cập đến vai trò của người kể chuyện cũng là đề cập đến nhiều yếu tố liên quan đến tiến trình vận động trong cấu trúc nội tại của tác phẩm nghệ thuật. Cho nên, vai trò của người kể chuyện không chỉ là một yếu tố trong truyện mà còn là công cụ, một phương tiện để nhận thức thế giới nghệ thuật. Theo 150 thuật ngữ văn học do Lại Nguyên Ân biên soạn, “Trần thuật tự sự được dẫn dắt bởi một ngôi được gọi là người trần thuật – một loại trung giới giữa cái được miêu tả và thính giả, loại người chứng kiến và giải thích về những gì đã xảy ra. Ngôi này thường được gọi là ngôi “thứ ba” và thông thường là “vô hình”, “phi nhân cách hóa”.
Đồng thời, người trần thuật có thể bị “cô đặc” lại thành một vai cụ thể để trở thành người kể chuyện hoặc nhân vật kể chuyện. Lời trần thuật không chỉ mô tả đối tượng phát ngôn mà còn mô tả ngay cả kẻ mang lời nói; hình thái tự sự đánh dấu lối nói và lối nói tri giác thế giới, đánh dấu nét độc đáo của ý thức người trần thuật” [5, tr. Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “người kể chuyện là hình tượng ước lệ về người trần thuật trong tác phẩm văn học, chỉ xuất hiện khi nào câu chuyện được kể bởi một nhân vật cụ thể trong tác phẩm. Đó có thể là hình tượng của chính tác giả, có thể là nhân vật đặc biệt do tác giả sáng tạo ra hoặc có thể 12 là một người biết một câu chuyện nào đó”.
Và “không phải bao giờ cũng có thể đồng nhất người trần thuật với bản thân tác giả”. “Một tác phẩm có thể có một hoặc nhiều người kể chuyện” [23, tr.Kayser đã khẳng định: “Người kể chuyện – đó là một hình hài đã được sáng tạo ra, thuộc về toàn bộ chỉnh thể tác phẩm văn học, “ở nghệ thuật kể, không bao giờ người trần thuật là vị tác giả đã hay chưa nổi danh, nhưng là cái vai mà tác giả bịa ra và chấp nhận” [31, tr.Barthes đưa ra quan điểm: “người trần thuật và các nhân vật về thực chất là những “sinh thể trên giấy”, không ai có thể nhầm lẫn tác giả của câu chuyện với người trần thuật lại câu chuyện ấy” [31, tr. Quan điểm này cho thấy người kể chuyện không mang tính chất hình thức, dừng lại ở phần thông tin mà tác giả sáng tạo ra chứ chưa thực sự mang ý nghĩa mà tác giả chuyển tải. Người kể chuyện theo quan điểm này đối lập với khái niệm “tác giả thực”, “tác giả cụ thể”.
Các nhà trần thuật học viết tiếng Anh phân biệt “trần thuật cá nhân” – ngôi thứ nhất của người kể chuyện vô danh hay của một nhân vật nào đó và “trần thuật phi cá nhân” – trần thuật nặc danh từ ngôi thứ ba. Còn các nhà nghiên cứu viết tiếng Pháp thì phủ nhận điều ấy, họ cho rằng về nguyên tắc không thể có “trần thuật cá nhân”. Vì họ cho rằng, phải có người “nắm lấy” ngôn từ và dẫn dắt câu chuyện hoặc khi nhân vật lên tiếng thì vai trò của người trần thuật lúc này là sự ủy thác cho nhân vật quyền dẫn dắt câu chuyện.Ryan cho rằng: “sự có mặt của người trần thuật là điều nhất thiết phải có trong bất kì văn bản nào, mặc dù ở một số trường hợp nó có thể có một mức độ tính cá nhân, còn ở một số trường hợp khác, tính cá nhân hoàn toàn bị loại trừ” [31, tr. Phùng Văn Tửu trong công trình tiểu thuyết trên con đường đổi mới nghệ thuật còn đặt ra vấn đề tách riêng “người kể chuyện” và “người viết chuyện” như một thủ pháp nghệ thuật nhằm làm tăng thêm bình diện cho tác phẩm khiến cho câu chuyện vừa sinh động hơn, vừa thật hơn.
Tác giả công trình đã nhận xét rằng: “vậy là ngoài “người viết chuyện” là nhà văn, còn có “người kể chuyện” 13 chẳng biết có phải là nhà văn hay không và “người kể chuyện” trung gian phiếm chỉ “người ta”, vì câu chuyện chắc đã truyền qua miệng nhiều người trước khi nhân vật “người kể chuyện” chưa hẳn đồng nhất với tác giả - kể lại với bạn đọc” [62, tr. Todorov đánh giá cao vai trò của người kể chuyện. Ông cho rằng: “Người kể chuyện là yếu tố tích cực trong việc kiến tạo thế giới tưởng tượng. Không thề có trần thuật nếu thiếu người kể chuyện.
Người kể chuyện không nói như các nhân vật tham thoại khác mà kể chuyện. Như vậy, kết hợp đồng thời trong mình cả nhân vật và người kể, nhân vật mà nhân danh nó cuốn sách được kể có một vị thế hoàn toàn đặc biệt. “Người kể chuyện không thể được gọi tên, nếu anh ta có tên, thì sau cái tên đó không có ai cả” [53, tr. Thống nhất với quan điểm đó, R.Barthes cho rằng: “Người kể chuyện và những nhân vật của anh ta bản chất là thực thể trên mặt giấy”; tác giả (thực tế) của văn bản không có điểm gì chung với người kể chuyện” [53, tr.
Nhìn chung, quan điểm này gần như cô lập hoặc tuyệt đối về vai trò của người kể chuyện khi không thiết lập nên mối quan hệ giữa người kể chuyện và tác giả. Bởi đằng sau người kể chuyện là ý thức của nhân vật, của người kể chuyện và của cả tác giả. Người kể chuyện xuất hiện trong tác phẩm là một trong những hình thức thể hiện quan điểm của tác giả người kể chuyện mang tính cách cũng như một hình tượng do tác giả sáng tạo ra. Cho nên, thái độ, tư tưởng của người kể chuyện cũng có thể là thái độ, quan điểm của tác giả nhưng không bao giờ trùng khớp hoàn toàn.
Genette là người chủ trương trong nghiên cứu cấu trúc nội tại của tác phẩm tự sự. Cho nên, vấn đề người kể chuyện được ông đặt trong sự tương quan với các yếu tố khác như tiêu cự, tiêu điểm, thức, giọng, tần suất. Ông rằng, để lí giải cách thức một câu chuyện được kể như thế nào phải phân biệt giữa giọng và thức. Các công trình của ông được nhiều sự ủng hộ và vận dụng của các nhà 14 nghiên cứu.
Xuất phát từ giọng, Genette đưa ra bốn kiểu người kể chuyện tương ứng với kiểu người kể chuyện. Đó là: người kể chuyện bên trong (intradiegetic narrator), người kể chuyện bên ngoài (extradiegetic narrator), người kể chuyện dị sự (hetrotradiegetic narrator) và người kể chuyện đồng sự (homodiegetic narrator). Sự phân biệt này được xác định cụ thể trong mối liên hệ giữa người kể chuyện với nhân vật bằng cách xác lập tiêu điểm và tiêu cự. Genette, khái niệm tiêu điểm đặt ra vấn đề câu chuyện đó do ai kể và đứng ở vị trí nào kể.
Từ đây, ông đưa ra ba kiểu người kể chuyện để xác định vai trò của người kể chuyện. Kiểu kể chuyện có tiêu điểm bằng không – zero focalization – chỉ người kể chuyện đứng bên ngoài nhưng là người biết tuốt, toàn tri, có vai trò như thượng đế biết hết mọi việc trong nhân sinh, quá khứ, hiện tại và tương lai. Kiểu kể chuyện có tiêu điểm bên trong còn gọi là nội tiêu điểm (internal focalization) người kể chuyện đồng thời cũng là nhân vật trong truyện. Kiểu kể chuyện này chia làm ba dạng cụ thể đó là dạng cố định, khi người kể chuyện là một nhân vật trong truyện kể lại mọi việc; dạng bất định, khi nhiều nhân vật kể những chuyện khác nhau; dạng đa thức, khi nhiều nhân vật cùng kể về một sự việc.
Kiểu truyện có tiêu điểm bên ngoài (external focalization) là người kể chuyện nằm ngoài câu chuyện kể lại tình tiết truyện một cách khách quan, không đi sâu vào tâm lí nhân vật. Kellogg lại chú ý đến mối quan hệ giữa người kể chuyện và thế giới được kể, với các nhân vật, sự kiện. Kellogg đã xác lập vai trò của người kể chuyện truyền thống, sử quan, chứng nhân và người kể chuyện toàn tri. Tùy thuộc vào từng loại truyện kể mà vai trò và quyền năng của người kể chuyện được xác định.
Lúc dó, người kể chyện xác định chỗ đứng của mình và chi phối các sự kiện, tình huống truyện. Booth trong Tu từ học tiểu thuyết đã đề cập đến những vấn đề liên quan đến tác giả, người kể chuyện, sự lựa chọn kiểu người kể chuyện. Từ đó, ông chia 15 người kể chuyện thành người kể chuyện không hiện diện và người kể chuyện hiện diện. Và tất nhiên, khi người kể chuyện không hiện diện thì trong toàn bộ câu chuyện vẫn có sự hiện diện và chi phối của anh ta.
Lúc này, người kể chuyện như một bản ngã thứ hai của tác giả hàm ẩn.