Phần mở đầu, chúng tôi lựa chọn và xác định đối tượng nghiên cứu của luận văn là các biểu thức chiếu vật (BTCV) nên việc xác định đối tượng khảo sát và nghiên cứu, thống kê phân loại chúng trên các bình diện khác nhau đều dựa trên các khái cơ bản của lý thuyết chiếu vật. Việc tìm hiểu các khái niệm. “sự chiếu vật”, “biêu thức chiếu vật" và “chiếu vật” trong luận văn về cơ bản lĩnh hội, trích dẫn từ các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả để đảm bảo tính khách quan của vấn đề lý thuyết được trình bày trong luận văn. Sự chiếu vật (reference) 'Về thuật ngữ chiếu vật, từ trước đến ngay, theo nhiều nhà nghiên cứu thì có nhiều cách định nghĩa khác nhau.
Thuật ngữ này được dịch từ tiếng Anh “reference”, tiêng Pháp là “référence”, ngoài ra còn được gọi là sự sở chí, tạo nên ngữ cảnh của nó được gọi là chiếu Theo G.Yule, “Sự quy chiếu là một hành động trong đó một người nói, hay người viết sử dụng các hình thái ngôn ngữ làm cho một người nghe hay người đọc có thê nhận diện được cái gì đó" [57, tr43] Theo Đỗ Hữu Châu: “Chiếu vật chính là quan hệ giữa phát ngôn (diễn ngôn) với các bộ phận tạo nên ngữ cảnh được gọi là sự chiếu vật. Nếu như ngữ dụng học quan tâm đến mối quan hệ giữa ngôn ngữ với ngữ cảnh thì chiếu vật là hiện tượng ngữ dụng học đâu tiên bởi vì nhờ chiếu vật mà ngôn ngữ gắn với ngữ cảnh, từ đó mà có căn cứ đầu tiên để xác định nghĩa của đơn vị ngôn ngữ đang thực hiện chức năng giao tiếp” [§, tr.186-187] Tác giả Nguyễn Thiện Giáp có cách nhìn nhận khác: “Quy chiếu là một hành động trong đỏ người nói hoặc người viết dùng các hình thức ngôn ngữ cho phép người nghe, người đọc nhận diện cái gì đó. Những hình thức ngôn ngữ ấy là những biểu thức quy chiếu” (refering expression) [24, tr.28] Qua cách nhìn nhận của các nhà nghiên cứu nêu trên, chúng tôi rút ra nhận xét chung: các công trình khoa học của các tác giả Đỗ Hữu Châu, Cao Xuân Hạo, Nguyễn Thiện Giáp, Đỗ Thị Kim Liên đều có sự thống nhất trong việc nhìn nhận khái niệm 'reference` với tư cách là vấn đề của ngữ dụng học và được coi là hiện tượng ngữ dụng học đầu tiên vì để có căn cứ cho việc xác định nghĩa của đơn vị ngôn ngữ đang thực hiện chức năng giao tiếp người ta nhờ vào chiếu vật bởi vì nhờ có chiếu vật mà ngôn ngữ gắn với ngữ cảnh. Chiếu vật không phải lúc nào cũng duy.
nhất, nó có mối quan hệ mật thiết với ngữ cảnh, có nghĩa là dựa vào ngữ cảnh thì sự vật quy chiếu sẽ khác nhau, sẽ thay đôi. Bàn về thuật ngữ chiếu vật, tác giả Đỗ Thị Kim Liên có nêu ví dụ để giải thích chứng minh: Vi du: Méo 1a mét khai niệm dé chỉ loài nói chung, được định nghĩa trong từ điển giải thích nhưng khi ta nói “Con mèo này rất đẹp” là phải ứng với một con mèo cụ thể, qua lời một nhân vật cụ thể mà theo nhận thức của người Việt thì nó phải đẹp thật.52] Như vậy, trên cơ sở tiếp thu những quan niệm khác nhau về sự chiếu vật, chúng tôi đưa ra khái niệm về sự quy chiếu (hay chiếu vật): đó là sự tương ứng giữa từ (hoặc giữa các đơn vị ngôn ngữ) với các sự vật. con người, hoạt động, tính chất trong hiện thực được nói tới. Biểu thức chiếu vật (referring expression) a.
Khái niệm biểu thức chiếu vật Khi biểu thức ngôn ngữ được phát ngôn sử dụng để chỉ ra một thực thể nào đó trong ngữ cảnh cụ thể của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ thì biểu thức đó là biểu thức ngôn ngữ chiếu vật, hay gọi cách ngắn gọn nhất là các biểu thức chiếu vật (BTCV) (referring expression). Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng thuật ngữ “biểu thức chiếu vật" đê chỉ tắt cả các phương tiện ngôn ngữ được sử dụng đề thực hiện quy chiếu trong ngữ cảnh cụ thê của ngữ liệu khảo sát, bao gồm ca nhing BTCV có cấu tạo là từ (chăng hạn: răng, gió, mưa.) và tô hợp từ (chẳng hạn: phận liễu, bánh trôi nước, phong ba luồng bập bềnh. Theo cuốn Từ vựng-ngữ nghĩa tiếng Việt và cuôn Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng của tác giả Đỗ Hữu Châu thì kết cấu ngôn ngữ (từ, cụm từ, câu) được dùng để chiếu vật được gọi là biều thức chiếu vật. Tác giả cũng cho rằng sự vật tương ứng với với một biểu thức chiếu vật là nghĩa chiều vật.
Chúng tôi đồng tình với quan niệm cho rằng “Cũng như các tín hiệu ngôn ngữ, BTCV có cái biểu đạt và cái được biểu đại. Cái biểu đạt của BTCV là các đơn vị ngôn ngữ tạo nên nó. Cái được biểu đạt là sự vật được quy chiếu hay CƯ tương ứng. Theo như các nhà nghiên cứu đều có chung quan diém nếu.
như một đơn vị ngôn ngữ có cả hai mặt là cái biểu đạt (vỏ âm thanh của tín hiệu ngôn ngữ) và cái được biểu đạt (là ý nghĩa của tín hiệu ngôn ngữ); thì ngược lại cái biểu đạt của BTCV là toàn bộ sự kết hợp của các đơn vị cấu thành nên nó cả trên phương diện vỏ âm thanh và ý nghĩa, còn cái được biểu đạt của BTCV chính là sự vật được quy chiếu hay chiếu vật của nó. Trong cuốn Nghia hoc Viét ngit, Nguyễn Thiện Giáp có nêu: “Xét về mặt tín hiệu học, trước hết, từ hình thức là cái biểu đạt của ý nghĩa của từ (cái được biểu đại); thứ hai, từ hình thức cùng với ý nghĩa của nó lại là cái biểu đạt của cái sở chỉ: thứ ba, trong những phát ngôn cụ thé, toàn bộ “từ hình thức-ÿ' nghĩa-sở chỉ" còn có thể đóng vai trò là một tín hiệu của một sự vật khác. Như vậy, ý nghĩa (sense) và sở chỉ (referent) chi la cdi duoc biéu dat (signified)” [26, tr48]. Như vậy, các BTCV có trong ngôn ngữ thơ Hồ Xuân Hương và Xuân Quỳnh sẽ được luận văn này miêu tả trên hai bình diện: bình diện cái biểu đạt (hình thức cấu tạo và quan hệ kết hợp cả về ý nghĩa và cú pháp); bình diện cái được biểu đạt (sự vật được quy chiếu hay CV).
Do các BTCV được sử dụng trong các văn bản nghệ thuật nên luận văn chúng tôi còn tìm hiểu và phân tích một số giá trị của chúng với việc thể hiện hệ thống hình tượng, biểu tượng nghệ thuật và trong chừng mực có thề, chúng tôi cũng lưu ý đến việc thể hiện các đặc điểm về tri nhận, văn hóa của dân tộc trong ngôn ngữ thơ của hai tác giả khảo sát Theo ly thuyết ngữ dụng học, không chỉ các sự vật, hiện tượng mới được quy chiếu bằng ngôn ngữ và trở thành CV của BTCV. Ngoài sự vật còn có hành động, 10 tinh chat, trạng thái, quá trình, sự kiện. cũng có thể được sử dụng đề quy chiếu đến trong hoàn cảnh giao tiếp cụ thể. BTCV không chỉ cấu tạo dưới dạng danh từ, đại từ hay ngữ danh từ mà còn có các động từ/ngữ động từ, tính từ/ngữ tính từ, các cấu trúc mệnh để (cụm C-V).
Trong phạm vi của luận văn này, khi tiến hành khảo. sát và miêu tả các BTCV về hình tượng người phụ nữ trong ngôn ngữ thơ Hồ Xuân Hương và thơ Xuân Quỳnh, chúng tôi chỉ dừng lại ở việc khảo sát các BTCV có cấu tạo là một trong 3 kiểu: danh từ, ngữ danh từ và quan hệ kết hợp. Với cách hiểu về BTCV như đã trình bày trên, chúng tôi đã vận dụng khái niệm này vào việc xác định đối tượng khảo sát của luận văn là các biểu thức chiếu. vật về người phụ nữ trong ngôn ngữ thơ Hồ Xuân Hương và thơ Xuân Quỳnh.
Tiêu chí xác định biểu thức chiếu vật ~ Tiêu chí thứ nhất-tiêu chí cấu trúc: Xét đến tính hoàn chỉnh, độc lập tương đối của nó về mặt cấu tạo: hoặc là một từ, hoặc là một cụm từ. Nếu là một cụm từ, việc xác lập đường biên của BTCV sẽ kết thúc ở chỗ có thể làm cho phẩn biểu thức ngôn ngữ được xét đủ tư cách là một ngữ danh từ hoặc một tổ hợp từ có kết cấu sóng đôi ~ Tiêu chí thứ hai-tiêu chí chức năng: Một biểu thức ngôn ngữ có kết cấu hoàn chinh sẽ được luận văn coi là BTCV khi biểu thức ngôn ngữ đó chỉ ra được một đối tượng, một thực thể cụ thê nào đó, trong thế giới khả hữu-hệ quy chiếu của BTCV đang được tác giả hoặc nhân vật nói tới Hai tiêu chí về cấu trúc và chức năng là không thể tách rời nhau khi xác định BTCV trong các câu thơ được khảo sát. Một BTCV cần thiết phải đáp ứng được cả hai tiêu chí thì mới nằm trong phạm vi đối tượng khảo sát của luận văn. Như chúng ta đã biết, các BTCV trong một diễn ngôn có quan hệ với ngữ cảnh, đặc biệt là với các đối ngôn (người nói, người nghe) trong một cuộc giao tiếp; Các sự vật thuộc hoàn cảnh giao tiếp hoặc thuộc thoại trường; Không gian, thời gian của cuộc giao tiếp và của các sự vật được chiếu vật trong diễn ngôn.
Vì thế, khi khảo sát một BTCV, ngoài căn cứ vào hai tiêu chí cụ thể như trên, chúng ta cũng cần xem xét mối quan hệ với ngữ cảnh đề hiểu đúng và sat vé BTCV. Chiếu vật và hệ quy chiếu a. Khai niém chiéu vat (referent) Nhu trên đã phân tích, diễn giải, thuật ngữ “chiếu vật” được chúng tôi sử dụng trong luận văn này là được dịch từ thuật ngữ “re/eren?" trong tiếng Anh, tương ứng với "sở chỉ" của tác giả Nguyễn Thiện Giáp hoặc “cái sở chỉ” của tác giả Cao Xuân Hạo.Green viết: “7huật ngữ chiếu vật được dùng để chỉ ra cái cách nhờ chúng mà người nói phát âm ra một biểu thức ngôn ngữ với hy vọng rằng biểu thức đó sẽ giúp cho người nghe của anh ta suy ra được một cách đúng đắn cái thực thể nào, đặc tính nào, quan hệ nào, sự kiện nào anh ta đang nói đến” (Dẫn theo Đỗ Hữu Châu, [§, tr.193]) Theo Đỗ Hữu Châu: “Thuật ngữ chiếu vật được dùng đẻ chỉ phương tiện, nhờ đỗ người nói phát ra một biểu thức ngữ vi với biểu thức này nghĩ rằng nó sẽ giúp cho người nghe suy ra được một cách đúng đắn thực thể. nào, quan hệ nào, sự kiện nào anh ta định nói đến”.