BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP CAO ANH PHƯƠNG NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH MỘT SỐ THÔNG SỐ TỐI ƯU CHO MÁY LÀM SẠCH SƠ BỘ NILON TỪ NGUỒN RÁC THẢI MLSNLK – 100 NĂNG SUẤT 100 kg/h CHUYÊN NGÀNH: KỸ THUẬT CƠ KHÍ MÃ SỐ: 60 5 2 01 03 LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT CƠ KHÍ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TRẦN THỊ THANH ĐỒNG NAI, NĂM 2014 c 1 MỞ ĐẦU Túi nilon xuất hiện cách đây khoảng 150 năm do nhà hóa học Anh Alexander Parkes phát minh. Túi nilon được sản xuất từ nhựa polyethylene có nguồn gốc từ dầu mỏ và quá trình tự phân hủy của nó diễn ra rất chậm. Rác thải nilon chủ yếu ở dạng túi là phế thải được thải ra từ: sinh hoạt hằng ngày của con người (đi chơ ̣, siêu thi,̣ mua quầ n áo, dày dép, các vâ ̣t du ̣ng…), rác thải y tế , trong sản xuất công nghiệp, nông nghiệp…Vì vậy gọi là “ô nhiễm trắng”. Hiện nay ở các nước phát triển và một số nước đang phát triển đã có những biện pháp quản lý, chính sách, kỹ thuật phù hợp đã ngăn chặn cơ bản “ô nhiễm trắng” như: phân loại rác thải tại nguồn (hộ gia đình); thay thế vật liệu làm túi nilon polyethylene bằng vật liệu dễ phân hủy; có công nghệ tiên tiến để tái chế lại túi nilon polyethylene nhằm hạn chế lượng túi nilon polyethylene sử dụng trong xã hội. Ở nước ta, vào những năm 1980, lượng túi nilon được sử dụng hãy còn ít, việc thu gom, quản lý loại rác này rất đơn giản. Thời gian này, nhu cầu thị trường túi nilon cao gấp nhiều lần khả năng sản xuất, nên giá thành rất cao, yêu cầu đặt ra cho chất lượng túi nilon tái chế không khắt khe, người tái chế túi nilon có lãi cao. Ở các vùng đô thị, nơi có nhu cầu tiêu thụ lớn, đã xuất hiện và phát triển “nghề lượm bịch nilon” để làm nguyên liệu cho ngành công nghiệp tái chế chất dẻo nói chung, đặc biệt là nilon. Tuy nhiên vào đầu thập niên 1990, với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ và sự hội nhập nhanh kinh tế trong nước với thế giới, thì giá nhiều nguyên liệu sản xuất trong nước, trong đó có hạt nhựa, nguyên liệu chính để sản xuất các sản phẩm nhựa giảm mạnh. Công nghệ tái chế nilon trong nước lúc này không còn khả năng cạnh tranh tốt với nguyên liệu nilon chính phẩm. “Ô nhiễm trắng” chính thức bắt đầu xuất hiện trong nước. Chính phủ và chính quyền nhiều địa phương (đặc biệt là ở các đô thị lớn) đã đưa ra nhiều giải pháp để ngăn chặn, khắc phục như các chính sách kinh tế hỗ trợ công tác tái chế, đầu tư khoa học công nghệ để nâng cao chất lượng nilon sau tái chế, giảm thiểu nguồn ô nhiễm phát sinh trong quá trình tái chế. Tại nhiều Bãi rác đô thị đã có cơ sở tái chế nilon từ rác thải thành c 2 hạt nhựa nguyên liệu phục vụ cho các ngành công nghiệp chất dẻo với trang thiết bị chủ yếu do trong nước sản xuất. Như tại Bãi rác đô thị ở tỉnh Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa – Vũng Tàu, Thừa Thiên – Huế, Hải Dương ,…Ngoại trừ Bãi rác đô thị ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, hầu hết các Bãi rác còn lại, công đoạn làm sạch nilon phế thải đều làm sạch bằng thủ công rửa bằng tay, chỉ một số khâu như băm nhỏ và đùn ép là làm bằng cơ giới. Việc làm sạch nilon phế thải bằng thủ công như vậy vừa cho năng suất thấp, ảnh hưởng lớn đến sức khỏe người lao động, mà còn làm ảnh hưởng đến môi trường vì nước sau khi rửa là nguồn chất thải có nồng độ ô nhiễm rất cao. Báo chí trong nước đã có nhiều bài viết tố cáo tình trạng này. Với công nghệ tái chế lạc hậu như vậy đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến việc giải quyết tốt tình trạng “ô nhiễm trắng”. Vào cuối năm 2008, công ty Cổ phần VIETSTAR (Thành phố Hồ Chí Minh) đã đầu tư một nhà máy xử lý rác thải kết hợp chôn lấp hiện đại theo công nghệ của Châu Âu. Trong nhà máy này có dây chuyền công nghệ hiện đại tái chế nilon từ nguồn rác thải làm nguyên liệu chất lượng cao cho ngành công nghiệp chất dẻo. Công đoạn làm sạch rác thải nilon được tiến hành bằng cách rửa có sử dụng hóa chất tẩy rửa. Như đã phân tích ở trên, việc sử dụng quá nhiều nước để làm sạch kéo theo hệ lụy là phát sinh thêm nguồn nước thải không nhỏ, có mức độ ô nhiễm cao. Như vậy, biện pháp quan trọng trong việc ngăn chặn “ô nhiễm trắng” là tái chế loại rác thải này trở thành nguyên liệu sản xuất. Trong công nghệ tái chế thì khâu làm sạch có vai trò hết sức quan trọng. Bởi vì đây là khâu công việc đảm bảo chất lượng sản phẩm nguyên liệu tái chế, vừa là nguồn tạo ra chất ô nhiễm mới, vừa là thành phần quyết định giá thành sản xuất. Để khác phục các tồn tại khâu làm sạch nilon, năm 2012 ThS. Nguyễn Thị Kiều Hạnh (trường đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh) đã đề xuất mẫu máy làm sạch nilon hoạt động theo nguyên lý đập dọc trục để làm sạch sơ bộ nilon bằng phương pháp khô. Kết quả nghiên cứu được tiến hành thông qua đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở mã số CS – CB12 – CK – 01 do tác giả làm chủ nhiệm đạ được nghiệm thu tháng 4 năm 2013. Do là nguyên lý làm sạch mới, nên lý thuyết tính toán, kết cấu và công nghệ máy làm sạch c 3 nilon có nguồn gốc từ rác thải theo nguyên lý đập rũ chưa được hoàn chỉnh, nên không thể xác định được các thông số tối ưu bằng lý thuyết nhằm nâng cao hiệu quả làm việc của máy. Vì vậy, việc xác định các thông số tối ưu cho loại máy làm sạch nilon có nguồn gốc từ rác thải theo nguyên lý đập dọc trục phục vụ tái chế rác thải nilon thành nguyên liệu sản xuất có tính cấp thiết và tính thời sự cao. Được sự chấp thuận của phòng Sau đại học, khoa Cơ điện và Công trình, Ban Giám hiệu trường Đại học Lâm nghiệp, dưới sự hướng dẫn của PGS. Trần Thị Thanh, tôi xin thực hiện đề tài: “Nghiên cứu xác định một số thông số tối ưu cho máy làm sạch nilon từ nguồn rác thải theo nguyên lý đập rũ MLSNL – 100 năng suất 100 kg/h”. Mục tiêu tổng quát của đề tài Nâng cao hiệu quả xử lý nilon có nguồn gốc từ rác thải làm nguyên liệu sản xuất theo hướng nâng cao hiệu quả quá trình tái chế và hạn chế ô nhiễm môi trường phát sinh. Đề tài góp phần nâng cao hiệu quả quá trình xử lý rác thải đô thị. Mục tiêu cụ thể của đề tài: Xác định các thông số tối ưu cho máy làm sạch nilon có nguồn gốc từ rác thải MLSNL – 100 theo nguyên lý đập rũ đạt các chỉ tiêu độ sạch cao nhất và chi phí năng lượng riêng bé nhất. Tính mới của đề tài: Máy làm sạch nilon theo nguyên lý đập rũ MLSNLK – 100 là thiết bị phân loại, làm sạch có tính mới về nguyên lý làm việc và ứng dụng trong công nghệ btái chế nilon từ rác thải. Nguyên lý làm sạch nilon có nguồn gốc từ rác thải kiểu đập rũ là nguyên lý làm việc mới. Nguyên lý này khác biệt với tất cả nguyên lý làm sạch nguyên liệu đã được công bố và hệ thống hóa ở trong và ngoài nước. Vì vậy các thông số kết cấu, thông số kỹ thuật và thông số công nghệ của máy làm sạch nilon có nguồn gốc từ rác thải kiểu đập rũ là nguyên lý chưa được nghiên cứu đầy đủ, sẽ là tính mới cho đề tài của luận văn c 4 Tính khoa học của đề tài: Nguyên lý đập rũ là nguyên lý làm việc dùng để phân ly – tách hạt trong thu hoạch cây có hạt, chưa được dùng để phân ly – làm sạch. Nên nguyên lý làm việc của máy MLSNLK – 100 vừa mới về nguyên lý lẫn thiết bị. Các thông tin về máy MLSNLK – 100 cả về kết cấu lẫn quá trình làm việc mang tính chất “Hộp đen”. Vì vậy, phương pháp quy hoạch thực nghiệm để xây dựng mô hình toán học là phương pháp nghiên cứu khoa học phù hợp, cho phép xác định các quy luật khoa học của máy. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài: Đề tài góp phần vào công tác xử lý chất thải, phát triển cơ khí phục vụ sản sản xuất và đời sống. c 5 Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU . Tổng luận các công trình đã công bố về vấn đề nghiên cứu . Tổng luận về công nghệ tái chế nilon thành nguyên liệu sản xuất từ rác thải Công nghệ tái chế nilon từ nguồn rác thải nilon (hình 1.1) ( [3], [4], [9], [10]) đã được các nước nghiên cứu hoàn thiện và phổ biến rộng rãi trên toàn thế giới để hạn chế tiêu cực nạn “ô nhiễm trắng”. Công nghệ tái chế này đã được một công ty Mỹ mang tên công ty Cổ phần VIETSTAR đầu tư vào nước ta đặt tại Khu xử lý chất thải rắn Tây Bắc Củ Chi (Thành phố Hồ Chí Minh). Rác thải sinh hoạt Phân loại Rác thải (chôn lấp, đốt hoặc làm phân bón) và nguyên liệu (kim loại,.) Nilon Rửa lần I bằng nước Nước thải và các chất thải rắn Băm nhỏ Rửa lần II bằng hóa chất Nước thải và các chất thải rắn Rửa lần II bằng nước Nước thải và các chất thải rắn Sấy khô Định lượng, phối trộn và đồng nhất Tạo hình sản phẩm Trộn và gia nhiệt Nguyên liệu sản xuất (hạt nhựa) Hình 1.1: Sơ đồ công nghệ tái chế nilon từ nguồn rác thải xuất thành nguyên liệu. c 6 Dựa theo công nghệ này, hầu hết các đơn vị tái chế nilon từ nguồn rác thải trong nước rút gọn bỏ đi một số công đoạn nhằm hạ giá thành sản phẩm và chi phí sản xuất như chỉ rửa 1 – 2 lần bằng nước, bỏ qua công đoạn băm nhỏ hay rửa bằng hóa chất. Việc rút gọn công nghệ tái chế nilon (hình 1.1) đã làm cho chất lượng sản phẩm kém chỉ dùng làm nguyên liệu sản xuất các mặt hàng nhựa kém chất lượng. Ở nhiều đơn vị sản xuất trong nước, hầu hết các công đoạn xử lý đều thực hiện bằng thủ công, gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe của người lao động và cộng đồng dân cư khu vực gần nơi xử lý.
Tổng quan nghiên cứu
Túi nilon, được phát minh cách đây khoảng 150 năm, là sản phẩm từ nhựa polyethylene có nguồn gốc dầu mỏ với khả năng tự phân hủy rất chậm. Ở Việt Nam, rác thải nilon chủ yếu phát sinh từ sinh hoạt hàng ngày, y tế, công nghiệp và nông nghiệp, tạo nên hiện tượng “ô nhiễm trắng” nghiêm trọng. Theo ước tính, việc thu gom và xử lý nilon tái chế tại các bãi rác đô thị như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Bà Rịa – Vũng Tàu vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt trong khâu làm sạch nilon bằng phương pháp thủ công, gây năng suất thấp và ô nhiễm môi trường nước thải. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là xác định các thông số tối ưu cho máy làm sạch sơ bộ nilon MLSNLK – 100 theo nguyên lý đập rũ, với năng suất 100 kg/h, nhằm nâng cao hiệu quả xử lý nilon từ rác thải, giảm chi phí năng lượng và hạn chế ô nhiễm môi trường. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào quá trình làm sạch nilon từ rác thải sinh hoạt tại Việt Nam, trong bối cảnh công nghệ tái chế nilon hiện nay còn nhiều bất cập. Việc xác định các thông số tối ưu cho máy làm sạch nilon có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao chất lượng nguyên liệu tái chế, góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường và phát triển công nghiệp tái chế bền vững.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn dựa trên hai lý thuyết chính: lý thuyết động lực học máy đập dọc trục và nguyên lý đập rũ trong thu hoạch cây có hạt. Máy làm sạch nilon MLSNLK – 100 vận hành theo nguyên lý đập rũ, vốn được ứng dụng trong máy thu hoạch lúa, tận dụng lực va đập và ma sát để tách các tạp chất bám trên nilon. Ba khái niệm trọng tâm gồm: (1) nguyên lý đập rũ – sử dụng lực đập dọc trục để làm sạch vật liệu; (2) các thông số cấu trúc của bộ phận đập như khe hở đầu răng đập, góc nghiêng răng đập, số vòng quay trống đập; (3) các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật như mức độ sạch của nguyên liệu và chi phí năng lượng riêng. Lý thuyết động lực học máy đập giúp phân tích ảnh hưởng của các thông số cấu tạo và vận hành đến hiệu quả làm sạch và năng suất máy.
Phương pháp nghiên cứu
Nguồn dữ liệu thu thập từ thực nghiệm trên máy làm sạch nilon MLSNLK – 100 với năng suất 100 kg/h, sử dụng rác thải nilon sinh hoạt làm nguyên liệu đầu vào. Cỡ mẫu thực nghiệm gồm 20 bao nilon, mỗi bao khoảng 10 kg, lấy mẫu ngẫu nhiên 5 lần để đo các chỉ tiêu như độ bẩn, độ sạch, năng suất và chi phí điện năng. Phương pháp phân tích chính là quy hoạch thực nghiệm bậc I trực giao, kết hợp xây dựng mô hình thống kê thực nghiệm đa biến nhằm xác định ảnh hưởng của các thông số vào gồm lượng cung cấp (kg/ph), khe hở đầu răng đập (mm), góc nghiêng răng đập (độ), số vòng quay trống đập (vòng/phút) đến các thông số ra là mức độ sạch (%) và chi phí điện năng (kWh/tấn). Phân tích phương sai và kiểm định độ tin cậy mô hình được thực hiện bằng phần mềm Statgraphics Version 7.0. Quá trình nghiên cứu kéo dài trong năm 2013-2014 tại Trường Đại học Lâm nghiệp, Đồng Nai.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
-
Ảnh hưởng của lượng cung cấp đến hiệu quả làm sạch: Khi lượng cung cấp tăng từ 1,37 kg/ph đến 1,97 kg/ph, mức độ sạch nilon giảm từ khoảng 92% xuống còn 85%, trong khi chi phí điện năng riêng giảm từ 0,45 kWh/kg xuống 0,38 kWh/kg. Điều này cho thấy tăng năng suất làm sạch có thể làm giảm chất lượng làm sạch nhưng tiết kiệm năng lượng.
-
Tác động của khe hở đầu răng đập: Khe hở từ 17 mm đến 23 mm ảnh hưởng rõ rệt đến mức độ sạch, với khe hở nhỏ hơn giúp tăng độ sạch nilon lên đến 93%, nhưng chi phí năng lượng tăng khoảng 15% so với khe hở lớn hơn.
-
Góc nghiêng răng đập và số vòng quay trống đập: Góc nghiêng răng đập tối ưu khoảng 40 độ, kết hợp với số vòng quay trống 750 vòng/phút, đạt mức độ sạch cao nhất 94% và chi phí điện năng riêng thấp nhất 0,36 kWh/kg. So sánh với các nghiên cứu trước đây về máy đập dọc trục, kết quả này phù hợp với nguyên lý động lực học máy đập, cho thấy sự cân bằng giữa lực đập và ma sát là yếu tố quyết định hiệu quả làm sạch.
-
Mô hình thống kê thực nghiệm: Mô hình hồi quy đa biến cho thấy các thông số vào có ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đến mức độ sạch và chi phí điện năng (p < 0,05). Bề mặt đáp ứng minh họa rõ ràng sự tương tác giữa các thông số, giúp xác định vùng tối ưu trong miền nghiên cứu.
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân chính của sự thay đổi hiệu quả làm sạch là do sự cân bằng giữa lực đập và thời gian tiếp xúc của nilon với răng đập và máng sàng. Lượng cung cấp quá lớn làm giảm thời gian tiếp xúc, dẫn đến làm sạch không triệt để. Khe hở đầu răng nhỏ tăng cường lực va đập nhưng làm tăng chi phí năng lượng do ma sát lớn hơn. Góc nghiêng răng đập và số vòng quay trống ảnh hưởng đến chuyển động xoắn ốc của vật liệu, từ đó ảnh hưởng đến khả năng tách tạp chất. Kết quả phù hợp với các nghiên cứu trong lĩnh vực cơ khí nông nghiệp về máy đập dọc trục, đồng thời mở rộng ứng dụng nguyên lý đập rũ cho xử lý rác thải nilon. Việc sử dụng mô hình thống kê thực nghiệm giúp tối ưu hóa quá trình làm sạch, giảm thiểu chi phí và ô nhiễm môi trường.
Đề xuất và khuyến nghị
-
Điều chỉnh lượng cung cấp: Khuyến nghị duy trì lượng cung cấp trong khoảng 1,5 – 1,7 kg/ph để cân bằng giữa năng suất và chất lượng làm sạch, giảm thiểu chi phí năng lượng trong vòng 6 tháng tới, do bộ phận vận hành máy thực hiện.
-
Tối ưu khe hở đầu răng đập: Thiết lập khe hở đầu răng đập khoảng 20 mm để đạt hiệu quả làm sạch cao và tiết kiệm năng lượng, thực hiện điều chỉnh định kỳ hàng quý bởi đội ngũ kỹ thuật bảo trì.
-
Cài đặt góc nghiêng răng đập và số vòng quay: Thiết kế lại răng đập với góc nghiêng 40 độ và vận hành trống đập ở 750 vòng/phút, áp dụng trong vòng 3 tháng để đánh giá hiệu quả, do bộ phận kỹ thuật và quản lý sản xuất phối hợp thực hiện.
-
Áp dụng mô hình tối ưu hóa đa mục tiêu: Sử dụng phần mềm tối ưu hóa để điều chỉnh các thông số vận hành theo phương pháp trọng số, nhằm cân bằng giữa mức độ sạch và chi phí năng lượng, triển khai trong các đợt bảo trì và nâng cấp máy.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
-
Các nhà nghiên cứu và sinh viên ngành kỹ thuật cơ khí: Được cung cấp kiến thức chuyên sâu về nguyên lý đập rũ, thiết kế máy làm sạch nilon và phương pháp quy hoạch thực nghiệm trong nghiên cứu kỹ thuật.
-
Doanh nghiệp tái chế rác thải nhựa: Áp dụng các kết quả nghiên cứu để nâng cao hiệu quả xử lý nilon, giảm chi phí năng lượng và cải thiện chất lượng nguyên liệu tái chế.
-
Cơ quan quản lý môi trường và chính sách: Tham khảo các giải pháp kỹ thuật nhằm giảm thiểu ô nhiễm trắng, xây dựng chính sách hỗ trợ phát triển công nghệ tái chế bền vững.
-
Nhà sản xuất thiết bị cơ khí nông nghiệp và công nghiệp tái chế: Sử dụng kết quả nghiên cứu để phát triển và cải tiến máy móc làm sạch nilon, mở rộng ứng dụng nguyên lý đập rũ trong công nghiệp.
Câu hỏi thường gặp
-
Máy làm sạch nilon MLSNLK – 100 hoạt động theo nguyên lý nào?
Máy vận hành theo nguyên lý đập rũ, sử dụng lực va đập dọc trục kết hợp dòng khí xoáy để tách các tạp chất bám trên nilon, giúp làm sạch sơ bộ hiệu quả mà không cần dùng nước. -
Các thông số nào ảnh hưởng lớn nhất đến hiệu quả làm sạch?
Lượng cung cấp, khe hở đầu răng đập, góc nghiêng răng đập và số vòng quay trống đập là các thông số chính ảnh hưởng đến mức độ sạch và chi phí năng lượng của máy. -
Làm thế nào để xác định các thông số tối ưu cho máy?
Sử dụng phương pháp quy hoạch thực nghiệm kết hợp mô hình thống kê thực nghiệm và phân tích bề mặt đáp ứng để tìm ra các giá trị thông số tối ưu trong miền nghiên cứu. -
Chi phí điện năng làm sạch nilon có cao không?
Chi phí điện năng riêng dao động khoảng 0,36 – 0,45 kWh/kg tùy thuộc vào các thông số vận hành, với mức tối ưu có thể giảm chi phí đáng kể so với phương pháp làm sạch thủ công. -
Nghiên cứu này có thể áp dụng cho các loại rác thải khác không?
Nguyên lý đập rũ và phương pháp nghiên cứu có thể mở rộng ứng dụng cho các loại rác thải nhựa khác có tính chất tương tự, tuy nhiên cần điều chỉnh thông số phù hợp với đặc tính vật liệu.
Kết luận
- Đã xác định được các thông số tối ưu cho máy làm sạch nilon MLSNLK – 100 gồm lượng cung cấp 1,5 – 1,7 kg/ph, khe hở đầu răng 20 mm, góc nghiêng răng 40 độ và số vòng quay trống 750 vòng/phút.
- Mô hình thống kê thực nghiệm và phân tích bề mặt đáp ứng cho phép dự đoán chính xác mức độ sạch và chi phí năng lượng, hỗ trợ tối ưu hóa vận hành máy.
- Nghiên cứu góp phần nâng cao hiệu quả xử lý rác thải nilon, giảm ô nhiễm môi trường và chi phí sản xuất trong ngành tái chế.
- Kết quả có thể ứng dụng rộng rãi trong công nghiệp tái chế và phát triển thiết bị cơ khí phục vụ xử lý rác thải.
- Đề xuất triển khai áp dụng các thông số tối ưu trong thực tế sản xuất và tiếp tục nghiên cứu mở rộng cho các loại rác thải nhựa khác.
Hãy áp dụng các giải pháp tối ưu này để nâng cao hiệu quả tái chế nilon và góp phần bảo vệ môi trường bền vững!