Chương 1: Tìm hiểu khái quát về ảnh vệ tinh, các đặc trưng cơ bản của ảnh vệ tinh. Bài toán phân loại lớp phủ đô thị theo phương pháp GLCMNO mở rộng và các vấn đề đặt ra trong tiền xử lý dữ liệu. Bài toán nghiên cứu đặt ra trong luận văn, ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn. Chương 2: Tìm hiểu khái niệm nội suy ảnh, đặc điểm của quá trình nội suy ảnh, các phương pháp nội suy phổ biến bao gồm: Nội suy láng giềng gần nhất, nội suy song tuyến tính, nội suy xoắn bậc ba.
Các chỉ số đánh giá, so sánh chất lượng ảnh. Chương 3: Tiến hành thực nghiệm, đánh giá tác động của quá trình nội suy đối với ảnh vệ tinh ánh sáng ban đêm DMSP-OLS và ảnh vệ tinh bề mặt không thấm nước EstISA. Áp dụng các phương pháp nội suy ảnh trong quá trình tiền xử lý 02 dữ liệu này trong bài toán phân loại lớp phủ đô thị. Tính toán lại ngưỡng phân lớp phù hợp với từng phương pháp nội suy ảnh.
So sánh, đánh giá và đề xuất phương pháp nội suy ảnh vệ tinh phù hợp nhất đối với bài toán. Kết quả và ý nghĩa của luận văn Luận văn đã đánh giá được tác động của quá trình nội suy đối với 02 dữ liệu vệ tinh ảnh ánh sáng ban đêm DMSP-OLS và ảnh bề mặt không thấm nước EstISA. Đây là 02 dữ liệu vệ tinh có độ phân giải thấp (1km), nhưng đã và đang có nhiều ứng dụng trong nghiên cứu và thực tế. Đặc biệt, dữ liệu ảnh vệ tinh EstISA là dữ liệu vệ tinh bề mặt không thấm nước toàn cầu duy nhất hiện nay.
Việc đánh giá và áp dụng nội suy tăng độ phân giải đối với 2 dữ liệu vệ tinh này giúp quá trình phân tích và giải đoán có kết quả tốt hơn. Với kết quả đánh giá tính chính xác của bài toán phân loại lớp phủ đô thị qua chỉ số F1 Score = 0.9842, luận văn đề xuất áp dụng phương pháp nội suy song tuyến tính hoặc nội suy xoắn bậc ba trong tiền xử lý dữ liệu, tăng độ phân giải ảnh vệ tinh ánh sáng ban đêm DMSP-OLS và ảnh bề mặt không thấm nước EstISA đầu vào của bài toán. Tổng quan về dữ liệu viễn thám Viễn thám (Remote Sensing) được định nghĩa là khoa học nghiên cứu các phương pháp thu thập, đo lường và phân tích thông tin của vật thể quan sát mà không cần tiếp xúc trực tiếp với chúng [7]. Điều này được thực hiện nhờ việc quan sát và thu nhận năng lượng phản xạ, bức xạ từ các đối tượng quan sát và sau đó phân tích, xử lý, ứng dụng những thông tin đó.
Viễn thám ngày càng phát triển cùng với những thành tựu khoa học kỹ thuật về công nghệ vũ trụ, công nghệ điện tử, tin học. Các đối tượng nghiên cứu của khoa học viễn thám cũng trở nên đa dạng hơn về sự vật, hiện tượng xảy ra trên trái đất với các ứng dụng tại nhiều lĩnh vực khác nhau. Với các đặc trưng cơ bản như độ phân giải thời gian, độ phân giải không gian, độ phân giải bức xạ,… ảnh vệ tinh có nhiều ứng dụng trong việc giải quyết các bài toán thực tế như: Giám sát môi trường (theo dõi và cảnh báo ô nhiễm không khí); giám sát sự biến đổi khí hậu (theo dõi quá trình nóng lên trên toàn cầu, băng tan,.); trong nông nghiệp (theo dõi, giám sát cây trồng, dự báo năng suất, nguy cơ sói mòi đất); trong quản lý tài nguyên thiên nghiên (tài nguyên đất, rừng, biển,.), trong khí tượng học (dự báo thời tiết, động lực học khí quyển), lập bản đồ chuyên ngành (bản đồ sử dụng đất, bản đồ địa hình, bản đồ dân cư); theo dõi biến động của quá trình đô thị hóa với việc sử dụng đất, ước tính lượng điện năng tiêu thụ,… 1. Nguyên lý thu nhận dữ liệu viễn thám Viễn thám là công nghệ nhằm xác định và nhận biết đối tượng hoặc các điều kiện môi trường thông qua những đặc trưng riêng về phản xạ và bức xạ.
Sóng điện từ được phản xạ hoặc bức xạ từ vật thể là nguồn cung cấp thông tin chủ yếu về đặc tính của đối tượng [7]. Ảnh viễn thám sẽ cung cấp thông tin về các vật thể tương ứng với năng lượng bức xạ ứng với từng bước sóng đã xác định. Đo lường và phân tích năng lượng phản xạ phổ ghi nhận bởi ảnh viễn thám cho phép tách thông tin hữu ích về từng loại lớp phủ mặt đất khác nhau do sự tương tác giữa bức xạ điện từ và vật thể.1 Sơ đồ hệ thống viễn thám Một hệ thống viễn thám bao gồm bảy yếu tố liên quan dưới đây: a) Nguồn năng lượng hay nguồn chiếu sáng (A)- yêu cầu đầu tiên đối với hệ thống viễn thám là cần có một nguồn năng lượng giúp chiếu sáng hoặc cung cấp năng lượng điện cho đối tượng mục tiêu. Nguồn năng lượng chính thường sử dụng trong viễn thám là bức xạ mặt trời [9].
b) Sự bức xạ và khí quyển (B) – nguồn năng lượng đi từ nguồn phát đến đối tượng mục tiêu, nó sẽ tiếp xúc và tương tác với lớp khí quyển mà nó đi qua. Sự tương tác này có thể xảy ra lần thứ 2 khi năng lượng truyền từ đối tượng mục tiêu đến bộ cảm biến [9]. c) Sự tương tác với các đối tượng mục tiêu trên mặt đất (C) – khi năng lượng xuyên qua lớp khí quyển và tiếp xúc với mục tiêu, sự tương tác giữ nó và mục tiêu phụ thuộc vào đặc tính của đối tượng mục tiêu và sóng điện từ. Năng lượng phản xạ hay bức xạ của các đối tượng khác nhau là khác nhau [9].
d) Bộ ghi tại bộ cảm biến – Sensor (D) - năng lượng của sóng điện từ do các vật thể phản xạ hay bức xạ được bộ cảm biến đặt trên vật mang thu nhận và ghi lại. Bộ cảm biến có thể là các máy chụp ảnh hoặc máy quét. Phương tiện mang các bộ cảm biến được gọi là vật mang (máy bay, khinh khí cầu, tàu con thoi hoặc vệ tinh…) [9]. e) Bộ chuyển đổi, tiếp nhận và xử lý (E) – dữ liệu ghi nhận được từ bộ cảm biến sẽ được truyền đi (thường dưới dạng mẫu điện tử - electronic form) tới trạm thu nhận và xử lý dữ liệu – nơi dữ liệu được xử lý thành một ảnh (dạng hardcopy hoặc ảnh kỹ thuật số) [9].
12 f) Giải đoán và phân tích (F)- hình ảnh thu nhận sẽ được giải đoán và phân tích bằng các chương trình tự động hoặc dựa trên kinh nghiệm của chuyên gia nhằm trích xuất các thông tin về đối tượng mục tiêu [9].2 Phân loại viễn thám a. Phân loại theo nguồn tín hiệu Viễn thám chủ động (active): được cung cấp một năng lượng riêng, nguồn tia tới là tia sáng phát ra từ các thiết bị nhân tạo, thường là các máy phát đặt trên các thiết bị bay [7]. Ví dụ về viễn thám chủ động: Các hệ thống Radar, và Lidar đều là loại viễn thám chủ động Viễn thám bị động (passive): nguồn phát bức xạ là mặt trời hoặc từ các vật chất tự nhiên [7]. Phân loại theo đặc điểm quỹ đạo Căn cứ vào đặc điểm quỹ đạo vệ tinh, có thể chia ra hai nhóm vệ tinh là: Vệ tinh địa tĩnh là vệ tinh có tốc độ góc quay bằng tốc độ góc quay của trái đất trong vòng một ngày đêm nghĩa là vị trí tương đối của vệ tinh so với trái đất là đứng yên [7].
Vệ tinh quỹ đạo cực (hay gần cực) là vệ tinh có quỹ đạo nghiêng một góc gần 90° so với mặt phẳng xích đạo của trái đất [7]. Góc nghiêng đó gần như không đổi trong suốt quá trình hoạt động. Tốc độ quay của vệ tinh khác với tốc độ quay của trái đất và được thiết kế riêng sao cho thời gian thu ảnh trên mỗi vùng lãnh thổ trên mặt đất là cùng giờ địa phương và thời gian thu lặp lại là cố định đối với 1 vệ tinh [7]. Vệ tinh quỹ đạo không quan sát được thường xuyên liên tục như đối với vệ tinh tĩnh, nhưng độ cao gần trái đất hơn nên cho thông tin chi tiết hơn.
Các tham số về quỹ đạo (độ cao, góc nghiêng,…) của hai loại vệ tinh được xác định dựa vào những yếu tố quan trắc, cơ học quỹ đạo và các nghiên cứu về kỹ thuật. Phân loại theo bước sóng Viễn thám trong dải sóng nhìn thấy (𝜆 = 0,4 ÷ 0,7𝜇𝑚)và hồng ngoại (𝜆 = 0,7 ÷ 3𝜇𝑚) sử dụng nguồn năng lượng chủ yếu là bức xạ mặt trời. Viễn thám hồng ngoại nhiệt (𝜆 = 3 ÷ 4𝜇𝑚): là phương pháp ghi nhận các bức xạ nhiệt ở dải sóng hồng ngoại nhiệt (từ 3 đến 14 μm). Vì bức xạ nhiệt có cường độ yếu, lại bị hấp thụ mạnh bởi khí quyển, nên để thu các tín hiệu nhiệt cần có thiết bị quét nhiệt với độ nhạy cao.
13 Viễn thám siêu cao tần: Viễn thám siêu cao tần sử dụng bức xạ siêu cao tần có bước sóng từ một đến vài chục centimet.3 Các đặc trưng cơ bản của ảnh viễn thám 1.1 Khái niệm ảnh số Ảnh số được biểu diễn bởi một mảng hai chiều tập hợp hữu hạn các điểm ảnh (pixel) có cùng kích thước với mức xám phù hợp dùng để mô tả ảnh gần với ảnh thật.Mỗi điểm ảnh được xác định bởi toạ độ hàng (m), cột (n) và giá trị mức xám (g) [8].Toạ độ hàng và cột của mỗi pixel đều là các số nguyên. Số điểm ảnh xác định độ phân giải của ảnh.Ảnh có độ phân giải càng cao thì càng thể hiện rõ nét các đặt điểm của tấm hình càng làm cho tấm ảnh trở nên thực và sắc nét hơn.2 Khái niệm ảnh vệ tinh Ảnh vệ tinh hay còn gọi là ảnh viễn thám thường được lưu dưới dạng ảnh số, trong đó năng lượng sóng phản xạ (theo vùng phổ đã được xác định trước) từ các vị trí tương ứng trên mặt đất, được bộ cảm biến thu nhận và chuyển thành tín hiệu số xác định giá trị độ sáng của mỗi pixel. Ứng với các giá trị này, mỗi pixel sẽ có độ sáng khác nhau thay đổi từ đen đến trắng để cung cấp thông tin về các vật thể. Tùy chọn vào kênh phổ được sử dụng, ảnh vệ tinh được ghi lại theo những dải phổ khác nhau (từ cực tím đến sóng radio) nên người ta gọi là dữ liệu đa phổ, đa kênh, đa băng tần hoặc nhiều lớp.3 Độ phân giải không gian Độ phân giải không gian cho ta biết diện tích nhỏ nhất trên mặt đất mà bộ cảm có thể phân biệt được.
Ảnh có độ phân giải không gian càng cao khi có kích thước của pixel càng nhỏ.