CHƯƠNG 1. Khái niệm chung về vùng đất ngập nước nội địa[21] Đất ngập nước rất đa dạng, có mặt khắp mọi nơi và là cấu thành quan trọng của các cảnh quan trên mọi miền của thế giới. Hàng thế kỷ nay, con người và các nền văn hoá nhân loại được hình thành và phát triển dọc theo các triền sông hoặc ngay trên các vùng đất ngập nước. Đất ngập nước đã và đang bị suy thoái và mất đi ở mức báo động, mặc dù ngày nay người ta đã nhận biết được các chức năng và giá trị to lớn của chúng.
Ở Việt Nam, việc phân loại ĐNN được khởi xướng và áp dụng vào năm 1989 gồm D.Scott và Lê Diên Dực (Mai Đình Yên, 2002). Đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu và áp dụng về phân loại ĐNN của Việt Nam (Phan Nguyên Hồng và cs., 1997; Lê Diên Dực, 1998a; Nguyễn Chu Hồi và cs, 1999; Nguyễn Ngọc Anh và cs, 1999; Bộ KHCN&MT, 2001; Nguyễn Chí Thành và cs, 1999, 2002; 2002; Vũ Trung Tạng, 2004ab, Hoàng Văn Thắng, 2005). Theo cách Phân loại đất ngập nước của Phan Nguyên Hồng và cộng sự (1996) đã phân chia đất ngập nước theo các sinh cảnh, nhưng sắp xếp các sinh cảnh này theo tính chất ngập nước mặn (đới biển ven bờ) hay ngập nước ngọt (đất ngập nước nội địa). Cách thức phân loại này đúng như mục đích của tác giả là phục vụ cho việc nghiên cứu xây dựng chiến lược quản lý đất ngập nước ở cấp quốc gia, còn đối với các cấp chi tiết hơn sẽ không thể đáp ứng được.
Theo đó, đất ngập nước nội địa bao gồm: - Các hệ thống dòng chảy (sông, suối); - Các hồ tự nhiên; - Các hồ chứa nhân tạo; - Vùng đồng bằng châu thổ sông; - Các vùng ngập nước không thường xuyên. Ngoài ra theo hệ thống phân loại đất ngập nước Ramsar thì đất ngập nước nội địa bao gồm: - Các đồng bằng châu thổ thường xuyên có nước. 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Các sông/suối/lạch thường xuyên có nước; bao gồm cả các thác nước. - Các sông/suối/lạch có nước theo mùa/không liên tục/bất thường.
- Các hồ nước ngọt có nước thường xuyên (trên 8ha); bao gồm các hồ lớn uốn chữ U/hình móng ngựa. - Các hồ nước ngọt có nước theo mùa/không liên tục (trên 8ha); bao gồm cả các hồ ở đồng bằng ngập lũ. - Các hồ nước mặn/lợ/kiềm có nước thường xuyên. - Các hồ và bãi nước mặn/lợ/kiềm có nước thường xuyên.
- Các đầm/ vũng nước mặn/lợ/kiềm có nước thường xuyên. - Các đầm/ vũng nước mặn/lợ/kiềm có nước theo mùa/không liên tục. - Các đầm/ vũng nước ngọt có nước thường xuyên; các ao hồ (dưới 8ha); các đầm nước và đầm lầy trên đất vô cơ; có thảm thực vật nổi mọng nước ít nhất trong phần lớn mùa sinh trưởng. - Các đầm/ vũng nước ngọt có nước theo mùa/không liên tục trên đất vô cơ; kể cả bãi lầy, hố/ hốc đá, đồng cỏ ngập theo mùa, đầm cỏ lác/ lách.
- Các vùng đất than bùn không có rừng; bao gồm đầm lầy than bùn có cây bụi hoặc trống, các đầm lầy/ bàu, các đầm lầy thấp. - Các vùng đất ngập nước núi cao; kể cả các đồng cỏ núi cao, các vùng nước tạm thời do tuyết tan. - Các vùng đất ngập nước lãnh nguyên; bao gồm các vũng nước lãnh nguyên, các vùng nước tạm thời do tuyết tan. - Các vùng đất ngập nước cây bụi chiếm ưu thế; các đầm lầy cây bụi, các đầm nước có cây bụi chiếm ưu thế, các rừng cây bụi, cây dương đỏ; trên đất vô cơ.
- Các vùng đất ngập nước nước ngọt có cây lớn chiếm ưu thế; kể cả rừng đầm lầy nước ngọt, rừng ngập theo mùa, đầm lầy cây gỗ; trên đất vô cơ. - Các vùng đất than bùn có rừng; rừng đầm lầy đất than bùn. - Suối, ốc đảo nước ngọt. - Các vùng đất ngập nước địa nhiệt.
- Các hệ thống thủy văn castơ ngầm và hang động nội địa. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Giới thiệu về hệ thống thông tin địa lý GIS 1.1 Khái niệm GIS Hệ thống thông tin địa lý GIS - Geographical Information System (GIS) là một tổ chức tổng thể của bốn hợp phần: Phần cứng máy tính, phần mềm, tư liệu địa lý, người điều hành, mạng thông tin và quy trình được thiết kế hoạt động một cách có hiệu quả nhằm tiếp nhận, lưu trữ, điều khiển, phân tích và hiển thị toàn bộ các dạng dữ liệu địa lý. GIS có mục tiêu đầu tiên là xử lý hệ thống dữ liệu trong môi trường không gian địa lý. Sau này, do sự hỗ trợ của công nghệ tin học và tính đa dạng của các hệ thống ứng dụng và năm 2000, ESRI bổ sung thêm vào định nghĩa là cấu trúc của GIS có thêm hai hợp phần là quy trình và mạng.
Định nghĩa này được chấp nhận rộng rãi và được quan niệm như một định nghĩa chính thức về GIS. “Hệ thống Thông tin Địa lý là một hệ thống quản trị cơ sở dữ liệu địa lý bằng máy tính để thu thập, lưu trữ, kiểm tra, tích hợp, phân tích và hiển thị dữ liệu không gian địa lý”. Các học giả khác nhau cung cấp các định nghĩa khác nhau về GIS. Trong phạm vi các định nghĩa được trình bày dưới đây, mỗi học giả nhấn mạnh một vài khía cạnh khác nhau của GIS.
Một số định nghĩa bỏ qua sự hữu dụng thực sự của GIS là khả năng tích hợp thông tin và hỗ trợ trong việc đưa ra các quyết định, nhưng tất cả các định nghĩa này bao gồm các tính năng cần thiết, các dữ liệu tham chiếu tham khảo và phân tích không gian địa lí. Một định nghĩa được trích dẫn trong William Huxhold’s Introduction to Urban Geographic Information Systems: “Mục đích đầu tiên và quan trọng nhất của một hệ GIS truyền thống là phân tích không gian địa lý. Vì thế,có thể thu thập dữ liệu hạn chế và đầu ra bản đồ. Khả năng của phân tích của GIS thường hỗ trợ ra quyết định cho các dự án hoặc các khu vực địa lý giới hạn.
Các đặc điểm cơ sở dữ liệu bản đồ (tính chính xác, tính liên tục, đầy đủ, vv) là thường thích hợp cho đầu ra bản đồ quy mô nhỏ.Dữ liệu vector và dữ liệu raster cũng được bao gồm trong GIS.” 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Một định nghĩa khác của Jeffrey Star và John Estes: “Hệ thống thông tin địa lý (GIS) là một hệ thống thông tin được thiết kế để làm việc với các dữ liệu được tham chiếu bởi các tọa độ không gian và địa lý. Nói cách khác, một GIS là cả một hệ thống cơ sở dữ liệu với khả năng cụ thể cho dữ liệu không gian tham chiếu, cũng như một tập hợp các hoạt động để làm việc với dữ liệu. Dưới một góc nhìn khác, GIS có thể được dùng như bản đồ bậc cao.” Như vậy có thể thấy có nhiều định nghĩa GIS theo nhiều cách khác nhau nhưng chúng đều thể hiện những nét chính là xử lý các dữ liệu địa lý cho ra các thông tin hữu ích bằng công nghệ tin học. Lịch sử phát triển của hệ thống thông tin địa lý GIS Từ lâu bản đồ là một công cụ thông tin quen thuộc đối với loài người.
Trong quá trình phát triển kinh tế kĩ thuật, bản đồ luôn được cải tiến sao cho ngày càng đầy đủ thông tin hơn, ngày càng chính xác hơn. Khi khối lượng thông tin quá lớn trên một đơn vị diện tích bản đồ thì người ta tiến đến việc lập bản đồ chuyên đề. Ở bản đồ chuyên đề, chỉ có những thông tin theo một chuyên đề nào đó được biểu diễn. Trên một đơn vị diện tích địa lí sẽ có nhiều loại bản đồ chuyên đề: bản đồ địa hình, bản đồ hành chính, bản đồ địa chất, bản đồ du lịch, bản đồ giao thông, bản đồ hiện trạng xây dựng.
Trong những năm đầu thập kỉ 60 (1963-1964) các nhà khoa học ở Canada đã cho ra đời hệ thông tin địa lý. Hệ thống thông tin địa lý kế thừa mọi thành tựu trong ngành bản đồ cả về ý tưởng lẫn thành tựu của kỹ thuật bản đồ. Hệ thông tin địa lý bắt đầu hoạt động cũng bằng việc thu thập dữ liệu theo định hướng tuỳ thuộc vào mục tiêu đặt ra. Sự phát triển của GIS chịu ảnh hưởng của các nhóm nghiên cứu trọng điểm, các công ty và cá nhân cùng với sự phát triển kịp thời các khái niệm chính.
Ý tưởng về mô tả các lớp khác nhau của dữ liệu trên một loạt các bản đồ nền, có liên quan về mặt địa lý đã được xây dựng từ rất lâu. Giống như các bản đồ của trận Yorktown (Cách mạng Hoa Kỳ) được vẽ bởi nhà bản đồ học người Pháp Louis-Alexandre Berthier chứa lớp phủ bản lề để hiển thị di chuyển quân hoặc giữa thế kỷ 19 'Atlas 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com để kèm theo báo cáo thứ hai của Ủy ban đường sắt Ailen' cho thấy dân số, lưu lượng giao thông, địa chất và địa hình chồng trên bản đồ cùng một cơ sở tương tự của GIS, John Snow sử dụng một bản đồ cho thấy vị trí của cái chết do dịch tả ở trung tâm London trong tháng Chín, 1854 để theo dõi nguồn gốc của các ổ dịch là những ví dụ đầu tiên của phân tích địa lý. Nhưng dần dần những thay đổi bắt đầu xảy ra trong kỹ thuật lập bản đồ và các yếu tố sau đây gây ra sự thay đổi này trong phân tích bản đồ: Công nghệ máy tính - cải thiện trong phần cứng, đặc biệt là đồ họa. Sự phát triển của các lý thuyết của các quá trình không gian địa lý kinh tế và xã hội,nhân học, dân tộc học.
Nhận thức xã hội, trình độ giáo dục được nâng cao, nhận thức về vấn đề môi trường cũng được cải thiện. Kết quả của sự phát triển này là hiển nhiên từ kế hoạch vận chuyển tổng hợp của năm 1950 và những năm 1960 tại Detroit, Chicago trong đó yêu cầu sát nhập thông tin vận chuyển các tuyến đường, điểm đến, nguồn gốc, thời gian. Họ cuối cùng đã đưa ra bản đồ của dòng giao thông và khối lượng vận chuyển tích hợp. Tương tự như vậy, Khoa Địa lý, Đại học Washington, nghiên cứu về phương pháp thống kê tiên tiến, lập trình máy tính thô sơ, bản đò máy tính dẫn đến sự phát triển: Không gian cơ bản Nystuen đưa ra các khái niệm về khoảng cách, định hướng, kết nối Thuật toán máy tính Tobler để chiếu bản đồ, bản đồ học máy tính.
Cơ sở địa lý- lý thuyết học Bungevới địa lý-điểm, đường và khu vực.