CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA DOANH NGHIỆP 1. Lý thuyết hiệu quả hoạt động của công ty Bititci, Carrie và McDevitt [1997] định nghĩa quản trị hiệu quả của công ty nhƣ một "quá trình mà theo đó các công ty quản trị thành quả của mình phù hợp với mục tiêu và chiến lƣợc". Ðịnh nghĩa này thƣờng đƣợc sử dụng trong các nghiên cứu quản trị. Theo Bititci, Carrie & McDevitt [1997] nó là mục tiêu của quá trình đó để cung cấp hệ thống kiểm soát toàn diện, là nơi mà các chiến lƣợc của công ty đƣợc triển khai đến tất cả các quy trình kinh doanh, các hoạt động, nhiệm vụ và từng nhân viên, và thông tin phản hồi thu đƣợc thông qua hệ thống quản trị hiệu quả cho phép có các quyết định quản trị thích hợp.
Mục đích cuối cùng của quá trình đó là để cải thiện hiệu quả của công ty. Ðể đo lƣờng hiệu quả hoạt động cũng nhƣ khả năng sinh lời của công ty ta có thể đo lƣờng bằng thƣớc đo tài chính và phi tài chính. Nhƣng mục tiêu trực tiếp nhất đối với các ông chủ doanh nghiệp, các nhà quản lý là tập trung vào các thƣớc đo tài chính. Những thƣớc đo này bao gồm lợi nhuận, doanh thu, lợi nhuận trên vốn đầu tƣ, lợi nhuận trên doanh thu, lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, lợi nhuận trên tài sản, lợi nhuận trƣớc thuế hay tỷ lệ tăng trƣởng doanh thu.
Các thƣớc đo tài chính là mục tiêu vì nó đơn giản, dễ hiểu và dễ tính toán, nhƣng trong nhiều trƣờng hợp, do tính bảo mật, không thể tiếp cận, tính đầy đủ, tính chính xác và tính đúng thời hạn của dữ liệu để so sánh giữa các bộ phận là đầy thách thức và không hiệu quả. Hơn nữa, lợi nhuận có thể đƣợc làm sai lệch và điều chỉnh. Khi đó, cách có thể áp dụng là các thƣớc đo phi tài chính, mặc dù mang tính chủ quan, nhƣng nó bổ sung cho các thƣớc đo Luan van 13 tài chính một cách hiệu quả hơn. Sự kết hợp của hai thƣớc đo giúp cho chủ doanh nghiệp, nhà quản lý có đƣợc cái nhìn rộng hơn về đo lƣờng và so sánh hiệu quả hoạt động của công ty, đặc biệt là mức độ hiệu quả trong việc sử dụng các nguồn lực, khả năng cạnh tranh và sẵn sàng để đối mặt với những áp lực ngày càng tăng từ bên ngoài bao gồm cả sự toàn cầu hoá.
Tùy thuộc vào thời gian của một dự án hay một kế hoạch, kết quả và lợi nhuận có thể đƣợc đo lƣờng dựa trên các thƣớc đo ngắn hạn hay dài hạn. Các thƣớc đo ngắn hạn, thông thƣờng dựa vào lợi nhuận tài chính, là để đánh giá các dự án sẽ hoàn thành trong vòng mƣời hai tháng, trong khi các thƣớc đo dài hạn, thông thƣờng dựa trên lợi nhuận phi tài chính, rất hữu ích cho các dự án mà có thể mất mƣời hai tháng trở lên. Các thƣớc đo tài chính ngắn hạn, trong đó bao gồm doanh thu và lợi nhuận, phản ánh hiệu quả hoạt động hiện tại của một công ty có thể không nhất thiết phải đáp ứng nhƣ một hƣớng dẫn hữu ích hay dự đoán cho sự tồn tại lâu dài của công ty. Tuy nhiên, bằng cách cộng dồn doanh thu và lợi nhuận, có thể trở thành một nhóm nguồn lực hữu ích cho sự phát triển, kế hoạch mở rộng trong tƣơng lai, giúp thúc đẩy công ty lên trên ngƣỡng tồn tại của nó và hỗ trợ chiến lƣợc tăng trƣởng của công ty.
Phillips [1999] lập luận rằng, khả năng sinh lời trong ngắn hạn là một yếu tố quan trọng trong khả năng của công ty để đạt đƣợc mục tiêu dài hạn nhƣ tăng thị phần, thƣơng hiệu và danh tiếng. Khả năng sinh lời thấp trong một khoảng thời gian cụ thể, có thể không phản ánh sự kém cỏi của các chủ sở hữu, ngƣời quản lý, mà do đầu tƣ lớn đang đƣợc chuyển vào các dự án dài hạn với mục đích tăng trƣởng trong tƣơng lai hoặc để đáp ứng nhu cầu nội bộ (ví dụ nhu cầu tăng lƣơng đột ngột của ngƣời lao động) hoặc yêu cầu từ bên ngoài (ví dụ nhƣ đáp ứng các quy định pháp luật). Ðo lƣờng hiệu quả hoạt động của công ty nên dựa trên phƣơng pháp tiếp cận toàn diện trong đó kết hợp thƣớc đo tài chính và phi tài chính cũng nhƣ các yếu tố thời gian. McDougall và Oviatt [1996] báo cáo rằng sự gia tăng khối lƣợng bán hàng là do những nỗ lực trong quá khứ và kết quả của sự thỏa mãn của khách hàng.
Khái niệm vốn l u động Vốn lƣu động là số tiền ứng trƣớc về những tài sản lƣu động hiện có của doanh nghiệp (Van Horne và Wachowicz, 2005). Vốn lƣu động luôn chuyển hóa từ giai đoạn này sang giai đoạn khác. Do sự chuyển hóa không ngừng nên vốn lƣu động thƣờng xuyên có các bộ phận tồn tại cùng một lúc dƣới các hình thái khác nhau trong lĩnh vực sản xuất và lƣu thông nhƣ vật tƣ dự trữ, nguyên nhiên vật liệu, vật bao bì, công cụ, dụng cụ, sản phẩm dở dang, chi phí chờ phân bổ, thành phẩm trong kho, vốn trong thanh toán, vốn bằng tiền. Theo nghĩa rộng, vốn lƣu động là giá trị của toàn bộ tài sản ngắn hạn, những tài sản gắn liền với chu kỳ kinh doanh của công ty.
Trong mỗi chu kỳ kinh doanh, chúng chuyển hoá qua tất cả các dạng tồn tại từ tiền mặt đến hàng tồn kho, khoản phải thu và trở về hình thái cơ bản ban đầu là tiền mặt. Với sự chuyển hoá nhanh nhƣ vậy, các hoạt động quản trị vốn lƣu động chiếm gần nhƣ phần lớn thời gian và tâm trí của các nhà quản trị tài chính. Quản trị vốn lƣu động với mục tiêu chính là phải đảm bảo đủ dòng tiền để các công ty duy trì hoạt động kinh doanh một cách bình thƣờng trên cơ sở giảm thiểu rủi ro mất khả năng đáp ứng các nghĩa vụ tài chính trong ngắn hạn. Do vậy, hiệu quả của quản trị vốn lƣu động phụ thuộc vào sự cân đối giữa tính thanh khoản và khả năng sinh lời của doanh nghiệp.
Sự thiếu hụt vốn lƣu động có thể gây trục trặc cho hoạt động kinh doanh hàng ngày của doanh nghiệp nhƣng đầu tƣ quá nhiều vào vốn lƣu động thì lại làm giảm rủi ro thanh khoản, sẽ làm tăng chi phí cơ hội của đầu tƣ, đặc biệt khi doanh nghiệp dùng nguồn vốn từ bên ngoài để tài trợ cho vốn luân chuyển. Phân loại vốn l u động a. Dựa theo vai trò vốn lưu động trong quá trình tái sản xuất Vốn lƣu động trong khâu dự trữ sản xuất: vốn nguyên vật liệu chính, nguyên vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, vật liệu đóng gói, công cụ, dụng cụ. Luan van 15 Vốn lƣu động trong khâu sản xuất: vốn sản phẩm đang chế tạo, bán thành phẩm tự chế, chi phí trả trƣớc… Vốn lƣu động trong khâu lƣu thông: vốn thành phẩm, hàng hóa, vốn bằng tiền, các khoản phải thu,… b.
Dựa theo hình thái biểu hiện Vốn vật tƣ hàng hóa là các khoản vốn lƣu động có hình thái biểu hiện bằng hiện vật cụ thể nhƣ là: vốn nguyên, nhiên vật liệu; vốn sản phẩm dở dang; vốn hàng thành phẩm, hàng tồn kho; vốn chi phí trả trƣớc. Vốn bằng tiền và các khoản phải thu: phân loại theo cách này để tạo điều kiện thuận lợi cho việc xem xét, đánh giá, khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Vốn đầu tƣ tài chính ngắn hạn: chứng khoán ngắn hạn, vốn góp kinh doanh ngắn hạn. Dựa theo nguồn hình thành Cách phân loại này cho thấy kết cấu vốn lƣu động đƣợc hình thành bằng vốn của doanh nghiệp hay từ các khoản nợ.
Từ đó có các quy định trong huy động và quản lý, sử dụng vốn lƣu động hợp lý hơn. Có thể chia vốn lƣu động thành hai loại dựa theo nguồn hình thành: Nguồn vốn chủ sở hữu: là số vốn lƣu động thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp có đầy đủ các quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền chi phối và định đoạt, bao gồm: nguồn ngân sách; liên doanh, liên kết; nguồn vốn cổ phần, nguồn vốn tự bổ sung… Nợ phải trả: nguồn vốn đi vay, nguồn vốn trong thanh toán. Quản trị vốn l u động Vốn lƣu động đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển và sinh lời của các doanh nghiệp. Nếu lƣợng vốn lƣu động không đủ thì có thể dẫn đến sự Luan van 16 thiếu hụt và gặp khó khăn trong hoạt động hàng ngày của doanh nghiệp (Horne và Wachowicz, 2000).
Vốn lƣu động cũng đƣợc gọi là vốn lƣu động thuần và đƣợc xác định nhƣ sau (Hill, 2010): Vốn lƣu động thuần = Tài sản lƣu động – Nợ ngắn hạn Tài sản lƣu động bao gồm tiền mặt và các khoản tƣơng đƣơng tiền, đầu tƣ ngắn hạn, các khoản phải thu ngắn hạn, hàng tồn kho. Nợ ngắn hạn là những khoản nợ có thời hạn từ 1 năm trở xuống, bao gồm khoản phải trả, nợ ngắn hạn, các khoản nợ đáo hạn. Chu kỳ vốn lƣu động bắt đầu từ việc mua nguyên vật liệu, sau đó nguyên vật liệu đƣợc chuyển thành thành phẩm. Những thành phẩm này đƣợc lƣu trong kho cho đến khi chúng đƣợc bán cho khách hàng.
Bán hàng có thể thu ngay bằng tiền mặt hoặc bằng tín dụng bán hàng. Cùng với mỗi bƣớc trong chu kỳ luân chuyển vốn lƣu động thì có các chi phí hoạt động phát sinh, đó là những chi phí trực tiếp và chi phí cơ hội. Chi phí trực tiếp là chi phí vốn đầu tƣ vào mỗi thành phần của vốn lƣu động. Chi phí cơ hội là những thu nhập có thể bị bỏ lỡ do đầu tƣ vào vốn lƣu động thay vì đầu tƣ vào cơ hội khác (Brealey và Javis, 2006).
Quản trị vốn lƣu động (WCM) là một phần của quản trị tài chính của một doanh nghiệp. (WCM) là rất quan trọng cho một doanh nghiệp, đặc biệt là cho các doanh nghiệp sản xuất, thƣơng mại và phân phối, bởi vì trong các doanh nghiệp này (WCM) trực tiếp ảnh hƣởng đến lợi nhuận và tính thanh khoản. Ðiều này là do các doanh nghiệp này có số vốn lƣu động chiếm hơn một nửa số tổng tài sản của họ (Raheman và Nasr). Luan van 17 Nếu (WCM) không hiệu quả có thể dẫn đến phá sản, ngay cả khi công ty có lợi nhuận (Ksargar và Blumenthal,1994).
Nếu tài sản lƣu động quá dƣ thừa thì sẽ dẫn đến lợi nhuận bình quân trên các khoản đầu tƣ thấp. Các công ty có thể có một số lƣợng vốn lƣu động tốt nhất mà có thể tối đa hóa giá trị của họ.