Luận văn thạc sĩ: So sánh cảm hứng an bần lạc đạo trong sáng tác văn học thế kỉ 16 và 19

Luận văn thạc sĩ văn học nghiên cứu nghiên cứu so sánh cảm hứng an bần lạc đạo trong sáng tác văn học thế kỉ 16 và 19 qua hai tác giả, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân,

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2013

93
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về cảm hứng an bần lạc đạo trong văn học

Cảm hứng an bần lạc đạo là một trong những chủ đề nổi bật trong văn học Việt Nam, đặc biệt trong các tác phẩm của hai tác giả tiêu biểu là Nguyễn Bỉnh KhiêmNguyễn Công Trứ. Chủ đề này phản ánh tâm tư, tình cảm của con người trong bối cảnh xã hội phong kiến, nơi mà những giá trị đạo đức và nhân văn được đặt lên hàng đầu. Qua việc nghiên cứu, có thể thấy rằng cảm hứng này không chỉ là một triết lý sống mà còn là một cách nhìn nhận về cuộc đời, thể hiện sự tìm kiếm hạnh phúc trong nghèo khó.

1.1. Định nghĩa cảm hứng an bần lạc đạo

Cảm hứng an bần lạc đạo được hiểu là sự tìm kiếm sự bình yên và hạnh phúc trong cuộc sống giản dị, không màng đến danh lợi. Đây là một triết lý sống của những người trí thức trong xã hội phong kiến, thể hiện qua các tác phẩm văn học.

1.2. Vai trò của cảm hứng trong văn học thế kỷ 16 và 19

Cảm hứng này đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành phong cách sáng tác của Nguyễn Bỉnh KhiêmNguyễn Công Trứ. Nó không chỉ phản ánh tâm tư của tác giả mà còn là tiếng nói của thời đại, thể hiện những biến động xã hội và tâm lý con người.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu cảm hứng an bần lạc đạo

Nghiên cứu cảm hứng an bần lạc đạo trong sáng tác của Nguyễn Bỉnh KhiêmNguyễn Công Trứ gặp nhiều thách thức. Một trong những vấn đề chính là sự khác biệt trong bối cảnh lịch sử và xã hội giữa hai thời kỳ. Thế kỷ 16 là thời kỳ nho giáo phát triển mạnh mẽ, trong khi thế kỷ 19 lại chứng kiến sự suy thoái của các giá trị truyền thống. Điều này tạo ra những khác biệt rõ rệt trong cách thể hiện cảm hứng này.

2.1. Khó khăn trong việc so sánh hai tác giả

Việc so sánh cảm hứng giữa hai tác giả không chỉ đòi hỏi hiểu biết sâu sắc về từng tác phẩm mà còn cần phải xem xét bối cảnh lịch sử, xã hội mà họ sống. Điều này làm cho việc phân tích trở nên phức tạp.

2.2. Sự khác biệt trong phong cách sáng tác

Phong cách sáng tác của Nguyễn Bỉnh KhiêmNguyễn Công Trứ có sự khác biệt rõ rệt. Trong khi Nguyễn Bỉnh Khiêm thường thể hiện sự trầm tư, sâu lắng thì Nguyễn Công Trứ lại mang đến sự phóng khoáng, tự do trong tư tưởng và ngôn ngữ.

III. Phương pháp nghiên cứu cảm hứng an bần lạc đạo

Để nghiên cứu cảm hứng an bần lạc đạo, cần áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. Phương pháp so sánh, phân tích tác phẩm và nghiên cứu lịch sử văn học là những công cụ hữu ích giúp làm rõ những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai tác giả. Việc áp dụng phương pháp liên ngành cũng giúp mở rộng góc nhìn về cảm hứng này.

3.1. Phương pháp so sánh tác phẩm

Phương pháp so sánh giúp làm nổi bật những điểm tương đồng và khác biệt trong cách thể hiện cảm hứng an bần lạc đạo của hai tác giả. Qua đó, có thể thấy rõ hơn sự phát triển của tư tưởng trong văn học.

3.2. Phân tích ngữ nghĩa và hình tượng

Phân tích ngữ nghĩa và hình tượng trong các tác phẩm của Nguyễn Bỉnh KhiêmNguyễn Công Trứ giúp làm rõ hơn cảm hứng an bần lạc đạo. Những hình ảnh, biểu tượng trong thơ ca sẽ được khai thác để hiểu sâu sắc hơn về tâm tư của tác giả.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu

Nghiên cứu cảm hứng an bần lạc đạo không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn có thể áp dụng vào thực tiễn. Những giá trị nhân văn trong tác phẩm của Nguyễn Bỉnh KhiêmNguyễn Công Trứ có thể được vận dụng trong việc giáo dục đạo đức và nhân cách cho thế hệ trẻ. Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần làm phong phú thêm kho tàng văn học Việt Nam.

4.1. Giá trị giáo dục từ cảm hứng an bần lạc đạo

Cảm hứng an bần lạc đạo mang đến những bài học quý giá về sự giản dị, khiêm nhường và tìm kiếm hạnh phúc trong cuộc sống. Những giá trị này có thể được áp dụng trong giáo dục và rèn luyện nhân cách.

4.2. Kết quả nghiên cứu và đóng góp cho văn học

Kết quả nghiên cứu sẽ giúp làm sáng tỏ hơn về vai trò của cảm hứng an bần lạc đạo trong văn học Việt Nam, từ đó khẳng định vị trí của Nguyễn Bỉnh KhiêmNguyễn Công Trứ trong lịch sử văn học.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu cảm hứng an bần lạc đạo

Nghiên cứu cảm hứng an bần lạc đạo trong sáng tác của Nguyễn Bỉnh KhiêmNguyễn Công Trứ mở ra nhiều hướng đi mới cho các nghiên cứu văn học sau này. Những giá trị nhân văn và triết lý sống trong tác phẩm của hai tác giả này vẫn còn nguyên giá trị cho đến ngày nay. Tương lai của nghiên cứu này sẽ tiếp tục khai thác sâu hơn về những ảnh hưởng của cảm hứng này trong văn học hiện đại.

5.1. Hướng nghiên cứu mới trong văn học

Nghiên cứu cảm hứng an bần lạc đạo có thể mở rộng ra nhiều lĩnh vực khác nhau, từ văn hóa, xã hội đến tâm lý học. Điều này sẽ giúp làm phong phú thêm hiểu biết về văn học Việt Nam.

5.2. Tầm quan trọng của cảm hứng trong văn học hiện đại

Cảm hứng an bần lạc đạo không chỉ là một chủ đề trong văn học cổ điển mà còn có thể được áp dụng trong văn học hiện đại. Những giá trị này sẽ tiếp tục được khám phá và phát triển trong các tác phẩm mới.

01/07/2025
Luận văn thạc sĩ nghiên cứu so sánh cảm hứng an bần lạc đạo trong sáng tác văn học thế kỉ 16 và 19 qua hai tác giả nguyễn bỉnh khiêm và nguyễn công trứ

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1). Từ nguyên lý ấy, nhà nho rút ra ba hệ luận để vận dụng vào việc xây dựng một hệ thống luân lý phù hợp với xã hội phong kiến mà họ sống và tham gia hoạt động là chính danh, nhất quán và trung dung. Ông tổ của nho giáo - Khổng Tử đã từng nói: "Danh không chính thì lời không xuôi, lời không xuôi thì việc không thành, việc không thành thì lễ nhạc không trôi. Cho nên bậc quân tử dùng danh phải nói ra được, nói ra được thì phải làm cho được"(Luận ngữ, “Tử Lộ”, III).

Như vậy ông đã đưa ra thuyết chính danh nhằm mục đích đưa xã hội vào vòng trật tự. Ông quan niệm rằng sự hỗn loạn đương thời chẳng qua là do mỗi người tự làm không đúng với cái phận của mình quy định bằng cái danh. Cho nên thuyết chính danh của ông không ngoài chủ trương đưa mỗi người vào đúng vị trí của họ. Và cũng từ đó, các hậu bối tiến thêm một bước, quy định chặt chẽ nghĩa vụ của từng thành viên trong xã hội, tạo ra "tam cương, ngũ luân".

Thực hiện chính danh theo ngũ luân để đưa xã hội vào kỉ cương, trật tự, ắt phải có phương pháp giáo hóa. Phương pháp ấy nhà nho gọi là nhất quán tức "nhất dĩ quán chi". Tăng Tử có lần giải thích cái đạo "nhất dĩ quán chi" rằng: "Phu tử chi đạo, trung thứ nhi dĩ hĩ" (Đạo của thầy chỉ trung và thứ mà vậy thôi) (Luận ngữ, “Lí nhân”, XV). Như vậy, nhất quán tức là "trung thứ".

Khổng Tử cũng có lần dặn môn sinh: "Kì thứ hồ: kỉ sở bất dục vật thi ư nhân" (Thứ là thế này: cái gì mình không muốn thì đừng thi hành cho người khác)(Luận ngữ, “Vệ Linh công”, XXIII). Còn Tăng Tử thì tự xét mình: "Vị nhân mưu nhi bất trung hồ" (Mưu việc cho người mà có hết lòng chăng)(Luận ngữ, “Học nhi”, IV) Theo đó, thì thứ là khía cạnh tiêu cực, trung là khía cạnh tích cực của một đạo cốt yếu. Thứ là "suy bụng ta ra bụng người" để khỏi làm hại người khác, Trung là giúp đỡ ai thì gắng sức hết lòng từ đầu đến cuối như làm cho mình vậy. Sách Trung dung có câu: "Trung thứ vi đạo bất viễn" (Có trung thứ thì không cách xa đạo)(Khổng Cấp, chương XIII).

Như vậy, trung và thứ tóm lại một mối thành ra "nhân". Nhân là cái đạo làm người lí tưởng, gồm những nghuyên tắc phổ biến để "hành kỉ đãi nhân" (làm cho mình và đối với người), "tu kỉ dĩ an nhân" (sửa mình và vỗ yên người khác). Vậy, theo nhà nho, phép "nhất dĩ quán chi" khởi đầu tại một mối nhân, suy rộng ra hai lẽ trung và thứ. Rồi từ trung và thứ suy rộng ra thành năm mối luân thường ứng dụng trong xã hội.

Nguồn gốc của luân thường là thuyết chính danh, phương pháp để chính danh là nhất quán, nhưng muốn thực hiện chính danh và nhất quán thì cần điều kiện bên trong con người là trung dung. Trình Tử đã định nghĩa: "Bất thiên chi vị trung, bất dịch chi vị dung. Trung giả thiên hạ chi chính đạo, dung giả thiên hạ chi định lí" (Không nghiên lệch gọi là trung, không thay đổi gọi là dung. Trung là cái đạo ngay thẳng trong thiên hạ, dung là cái lẽ nhất định của thiên hạ)(Khổng Cấp, sdd, Bài tựa).

Như vậy, dung là không thay đổi, lúc nào cũng phải theo, không giây phút nào tách rời ra xa mình được. Chữ trung phức tạp hơn nhiều với một quan niệm tổng hợp qua thời gian. Trung là chính giữa, không nghiêng lệch, cái gì cũng ở mức độ vừa phải, không thái quá, chẳng bất cập. Vậy, trung dung là lựa chọn dúng con đường ngay thẳng và ngắn nhất để đi đến chỗ trọn lành, biết rõ nơi khởi điểm cũng như đến chỗ cùng đích, và cố gắng không bỏ dở nửa chừng.

Nói đến Nho giáo có rất nhiều vấn đề. Nho giáo ra đời mang đến cho nhân loại một học thuyết mang tên "Quân tử chi đạo"(đạo của người quân tử) mà hạt nhân của nó chính là chữ Nhân. Đó là mục đích cao nhất của tu dưỡng đạo đức. Con người là tổng hòa của các mối quan hệ xã hội nhưng Nho giáo lại chia con người thành hai dạng là tiểu nhân và quân tử.

Hai dạng người này khác nhau bởi chữ Nhân. Người quân tử sở hữu chữ nhân, còn kẻ tiểu nhân thì không có. Chữ Nhân là tổng hòa của bốn chữ "dũng, thanh, đức, tài". Người dũng cảm làm việc nghĩa chưa chắc đã là Nhân.

Người thanh cao, trong sạch nhưng trong sạch không bao gồm Nhân. Người giữ mình đến mức không hiếu thắng, không khoe khoang, không oán giận, nhưng làm bấy nhiêu điều vẫn chưa tròn được chữ Nhân. Người tài trí hơn người chưa chắc đã là Nhân. Vì thế, để làm tròn được chữ Nhân, người quân tử phải thờ vua, kính nhường cha mẹ, và "huệ dân".

Cho nên, Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín là điều người ta hay dung để nói về người quân tử. Nho giáo là một học thuyết đậm đà tính thế tục, tập trung chú ý vào các vấn đề nhà nước, xã hội hơn là các vấn đề có tính chất triết học, vũ trụ luận. Vấn đề chủ yếu là biện luận đạo đức xã hội, là những chuẩn tắc, phương thức ứng xử trong các mối quan hệ xã hội và gia đình. Nho giáo rèn luyện con người theo đạo.

Và đạo của nhà Nho là "tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ". Khổng Tử đã từng nói :"Tự thiên tử dĩ chí ư thứ nhân, nhất thị giai dĩ tu thân vi bản" (Từ vua đến dân ai cũng phải lấy sự sửa mình làm gốc". Đó là con đường lí tưởng mà nho giáo vạch ra. Trước tiên phải tu thân, rồi mới trải qua nhiều công đoạn là trị quốc, bình thiên hạ.

Muốn tu thân là phải sửa cho mình thành người đức hạnh. Muốn thế, phải giữ tâm mình cho chính, cái ý của mình cho thành. Lấy tu thân làm gốc, lấy đức mục nhân làm đức mục cao nhất của quá trình tu thân, nhà nho vượt qua nhiều trở ngại. Con dường nho gia vạch ra với môn sinh là học để hành, học để ra làm quan, giúp vua giáo hóa dân, huệ dân.

Đó là con đường nhập thế, tức hành đạo (thực hiện cái đạo của mình). Nhưng việc hành đạo không bao giờ suôn sẻ. Khi vua sáng, tức vua tuân theo lí thuyết nho giáo, thì việc hành đạo hanh thông. Khi gặp vua tối, tức vua không tuân theo lí thuyết nho giáo thì việc hành đạo trở nên khó khăn.

Đặc biệt là khi loạn lạc, học thuyết trị bình của nho giáo trở nên bất lực. Khi ấy, các nhà nho lựa chọn con đường thứ hai là lui về ở ẩn để bảo vệ cái đạo của mình. Do đó, xuất (ra làm quan) và xử (về ở ẩn) tưởng như đối lập nhưng hoàn toàn thống nhất với nhau: một cách ứng xử trong hai hoàn cảnh khác nhau. Cả hai loại hình này không xa dời cái gốc tu thân của mình.

Để nhìn nhận một cách tổng quan về Nho giáo thì cần một quá trình tìm hiểu và nghiên cứu lâu dài. Hệ tư tưởng nho giáo đến ngày nay vẫn còn ảnh hưởng lớn đến đời sống xã hội Việt Nam. Bởi văn hóa tiếp nhận của Việt Nam là hòa nhập nhưng không hòa tan. Do đó, khi Nho giáo thâm nhập vào nước ta đã ít nhiều có sự biến đổi để phù hợp với tình hình xã hội thực tại.

Nho giáo với dòng chảy văn hóa Việt Nam. Nước Việt Nam từ chỗ một vùng đất nhỏ bé ở chung quanh linh sơn Tản Viên (nước Văn Lang) đã tồn tại qua áp lực nặng nề của thời kì Bắc thuộc, để rồi vươn mình lớn mạnh thành một dải giang sơn gấm vóc như ngày nay, ắt hẳn phải có cái gì đặc biệt. Đó chính là sức mạnh văn hóa chung đúc từ hàng nghìn năm lịch sử, vừa dung nạp tinh hoa ảnh hưởng của văn hóa ngoại lai, trong đó Nho học chỉ là một bộ phận. Và theo dòng lịch sử, Nho giáo cũng trải qua nhiều giai đoạn khác nhau.

Từ xưa, trước khi nước ta thoát khỏi tình trạng xã hội bán khai thời tiền sử, người Trung Quốc đã sớm tròng cái ách đô hộ lên đầu người dân Lạc Việt rồi. Nhưng ở thời Triệu (207 – 111 TCN), chúng ta chưa tiếp nhận ảnh hưởng nào từ nền văn minh phương Bắc. Sử sách cũ ghi chép lại: “Triệu Đà chia nước ta làm quận huyện, duy chỉ biết biên số thổ địa, thu thuế má, cung cấp ngọc bích cho nhà Hán …Còn về phần giáo hoá, phong tục không để ý đến một chút nào”. Do vậy, lúc đầu, nước ta chỉ lệ thuộc vào Trung Quốc một cách lỏng lẻo, gián tiếp dưới quyền một viên sứ giả.

Họ cốt vơ vét tài nguyên chứ không thống trị chặt chẽ về tinh thần. Nhân dân vẫn sống tự do theo nền nếp, phong tục riêng của mình. Mãi đến đầu đời Đông Hán, sau khi dẹp xong khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, Mã Viện đã tổ chức lại guồng máy chính trị hết sức chu đáo, khắt khe. Từ đó mới thấy có vài đại biểu khởi sự gieo hạt giống Nho giáo vào nước ta dù rất là hạn chế.

Tuy vậy, vẫn phải thấy rằng, “kết quả của hơn một nghìn năm đô hộ chỉ là sự nghèo nàn cùng khốn đi kèm với tâm trạng đối kháng thường trực của đại đa số nhân dân. Nho học có truyền bá vào chăng, cũng chỉ lưu hành trong phạm vi các nhà cai trị ngoại quốc, các kiều dân Trung Hoa cùng bọn thượng lưu bản xứ rất ít ỏi và thường mang tinh thần vong bản mỗi khi “làm nên””(Lê Nguyễn Lưu, Nguồn suối nho học và thơ ca Bạch Vân cư sĩ, tr 28). Cảnh ngộ đau thương thực tại khiến con người mất đi sự tin tưởng, nếu không có thái độ phản kháng thì cũng chỉ trông mong ở cuộc đời bên kia hoạ chăng có gì tốt đẹp. Vì thế không phải là Nho học mà là Phật học sớm được phổ biến trong đại chúng.

Thời gian đầu sau khi nước ta thoát khỏi vòng lệ thuộc, Nho giáo cũng không có gì khởi sắc hơn. Do nhu cầu đối phó với các cuộc hỗn loạn, các nhà lãnh đạo Ngô, Đinh, Tiền Lê dụng võ mà xao lãng văn trị. Đến thời Lí - Trần, xã hội ổn định, Nho học cũng phải nương theo Phật học mà len lỏi vào triều đình. Lần đầu tiên, năm 1070, vua Lí Thánh Tông dựng Văn Miếu ở Thăng Long để thờ Khổng Tử, Chu Công và tiên hiền.

Năm 1075, vua Lí Nhân Tông mở khoa thi “tam trường” để chọn những người “minh kinh bác học”, năm sau lập Quốc Tử Giám…Như vậy, nhà Nho khởi sự được một chỗ đứng rất khiêm tốn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "So sánh cảm hứng an bần lạc đạo trong văn học thế kỉ 16 và 19 qua Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Công Trứ" mang đến một cái nhìn sâu sắc về hai tác giả nổi bật trong văn học Việt Nam, khám phá cảm hứng an bần lạc đạo - một triết lý sống đề cao sự thanh thản và tự tại giữa những biến động của cuộc đời. Tác giả phân tích sự tương đồng và khác biệt trong cách thể hiện triết lý này của Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Công Trứ, từ đó giúp người đọc hiểu rõ hơn về giá trị văn hóa và tư tưởng của thời kỳ này.

Bài viết không chỉ cung cấp kiến thức về văn học mà còn mở ra những góc nhìn mới về triết lý sống, khuyến khích độc giả suy ngẫm về cuộc sống và những giá trị tinh thần. Để mở rộng thêm kiến thức, bạn có thể tham khảo tài liệu Quan niệm triết học về con người trong chu dịch khổng học đăng và hình tượng nhà nho trong văn học trung đại việt nam, nơi khám phá sâu hơn về triết lý Nho giáo trong văn học. Ngoài ra, tài liệu Tư tưởng nho giáo trong truyền kì mạn lục nguyễn dữ qua hệ thống nhân vật vua chúa và quan lại cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về ảnh hưởng của Nho giáo trong các tác phẩm văn học khác. Những tài liệu này sẽ là cơ hội tuyệt vời để bạn đào sâu hơn vào các chủ đề liên quan và mở rộng kiến thức của mình.