LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất lâu đời nhất. Nhân loại đã trải qua nhiều phương thức sản xuất nhưng sản xuất nông nghiệp vẫn có vai trò quan trọng trong hoạt động kinh tế xã hội của loài người. Nông nghiệp không chỉ cung cấp trực tiếp lương thực, thực phẩm cho đời sống hàng ngày của con người mà còn là hoạt động cung cấp nguyên liệu quan trọng cho công nghiệp chế biến, tạo nguồn hàng xuất khẩu. Bên cạnh đó, nông nghiệp còn đóng vai trò to lớn trong việc sử dụng, bảo vệ đất, nguồn nước cũng như cải thiện môi trường.
Ở Việt Nam, nông nghiệp, nông dân và nông thôn có vai trò quan trọng trong suốt quá trình xây dựng và phát triển đất nước. Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, nông nghiệp nước ta có những bước phát triển vượt bậc, giá trị và giá trị sản lượng nông nghiệp liên tục tăng, chủng loại cây trồng, vật nuôi đa dạng hơn, cơ cấu nông nghiệp đang chuyển dịch theo hướng tích cực. An ninh lương thực được giữ vững, nhiều sản phẩm nông nghiệp trở thành mặt hàng xuất khẩu chủ lực như gạo, thủy hải sản, cà phê. Đời sống nhân dân được cải thiện cả vật chất và tinh thần.
Hải Dương là một tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng có nhiều lợi thế để sản xuất nông nghiệp. Những năm qua, sản xuất nông nghiệp đạt được thành tựu khá vững chắc. Năm 2010, GDP nông, lâm, thủy sản trong cơ cấu GDP của tỉnh chiếm 23% cao hơn so với cả nước (20,6%) và cao hơn các tỉnh đồng bằng sông Hồng (12,6%). Khu vực nông nghiệp thu hút 54,5% lực lượng lao động của tỉnh.
Tuy nhiên, trong quá trình CNH, HĐH, diện tích đất nông nghiệp ngày càng giảm, thị trường nông sản có nhiều biến động, những rủi ro trong nông nghiệp do chịu ảnh hưởng của thiên tai. đang gây ra những khó khăn cho phát triển nông nghiệp Hải Dương. Để sản xuất nông nghiệp Hải Dương tiếp tục ổn định và phát triển trong giai đoạn hiện nay cũng như có những định hướng chiến lược cho tương lai, những nghiên cứu về sự phát triển nông nghiệp cần phải có sự nhìn nhận đúng vai trò, đánh giá một cách khách quan các nguồn lực cho phát triển nông nghiệp của tỉnh. Xuất phát từ thực tế phát triển nông nghiệp của tỉnh, đề tài “Nghiên cứu sự phát triển nông nghiệp ở tỉnh Hải Dương” được lựa chọn làm luận án Tiến sĩ nhằm góp phần luận giải quá trình phát triển nông nghiệp tỉnh Hải Dương từ năm 2000 đến nay dưới tác động của các nhân tố bên trong cũng như bên ngoài.
Từ đó đề xuất những giải pháp có cơ sở khoa học cho quá trình phát triển nông nghiệp của tỉnh trong các giai đoạn tiếp theo. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Trên thế giới - Trong hệ thống lí luận về phát triển kinh tế trên thế giới, những nghiên cứu lí luận về giai đoạn phát triển kinh tế chiếm một vị trí quan trọng. Tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này là nhà kinh tế người Mỹ, Walter W.
Theo lí thuyết của W. Rostow: quá trình phát triển kinh tế của mỗi quốc gia được chia thành 5 giai đoạn: xã hội truyền thống, chuẩn bị cất cánh, cất cánh, tăng trưởng và mức tiêu dùng cao và ứng với mỗi giai đoạn là một dạng cơ cấu kinh tế đặc trưng thể hiện bản chất phát triển của giai đoạn ấy. Theo mô hình này, then chốt nhất là giai đoạn “cất cánh” [dẫn theo 67]. Để chuẩn bị điều kiện cất cánh nền kinh tế phải có một hoặc nhiều ngành chủ đạo cho “cất cánh”.
Nông nghiệp trong giai đoạn chuẩn bị “cất cánh” có nhiệm vụ như một cuộc cách mạng nông nghiệp nhằm đảm bảo lương thực, thực phẩm cho dân cư. Lí thuyết của ông có ý nghĩa trong việc xác định trình độ phát triển của mỗi quốc gia trong mỗi giai đoạn và đưa ra những gợi ý cho các nhà hoạch định chiến lược Việt Nam “đi tắt đón đầu” cho sự lựa chọn cơ cấu kinh tế. Tuy nhiên, tăng trưởng là một quá trình liên tục chứ không phải đứt đoạn nên khó có thể phân chia thành những giai đoạn chính xác như vậy. Mặt khác, sự tăng trưởng và phát triển ở một số nước không nhất thiết phải phân chia 5 giai đoạn như trên và “tại sao cất cánh lại xảy ra ở nước này mà không xảy ra ở nước khác?” thì lý thuyết chưa giải thích được điều đó.
- Học thuyết Keynes: ra đời trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế cuối những năm 29 đầu những năm 30 của thế kỷ XX [dẫn theo 95]. Nội dung của học thuyết rất rộng, bao hàm nhiều vấn đề khác nhau để giải quyết các vấn đề của chủ nghĩa tư bản lúc bấy giờ, trong đó có một số điều có thể vận dụng như là cơ sở lí luận cho việc hoạch định chiến lược phát triển kinh tế nói chung và nông nghiệp nói riêng. Xuất phát từ chỗ đánh giá cao vai trò của tiêu dùng và trao đổi, học thuyết này vạch rõ vai trò to lớn của thị trường với phát triển kinh tế, từ đó xác định rõ cần phải áp dụng nhiều biện pháp nâng cao nhu cầu tiêu dùng, kích thích “cầu có hiệu quả”, tức là tìm biện pháp mở rộng thị trường trong và ngoài nước. Ý tưởng này gợi lên suy nghĩ về quá trình công nghiệp hóa, đồng thời cũng là quá trình phát triển kinh tế hàng hóa, tìm và mở rộng thị trường.
- Nhìn nhận vai trò của thị trường lao động nông thôn và quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp như một tiến trình chuyển dịch lao động giữa hai lĩnh vực chính nông nghiệp và công nghiệp, Lewis đưa ra mô hình nguồn lao động vô hạn và thị trường không hoàn hảo. Theo Lewis [dẫn theo 67], một nền kinh tế nông nghiệp e ở giai đoạn đầu phát triển, lao động nông thôn sống chủ yếu bằng nghề nông rất đông. Trong quá trình công nghiệp hóa, lao động chuyển sang lĩnh vực công nghiệp, phần đóng góp về GDP và tỷ lệ lao động của lĩnh vực nông nghiệp đến một thời điểm nhất định sẽ giảm xuống. Một chiến lược phát triển kinh tế thành công phải đảm bảo cho quá trình chuyển tiếp này diễn ra êm đẹp, lao động nông thôn đi thẳng sang sản xuất công nghiệp và dịch vụ mà không làm tăng lao động thất nghiệp ở thành phố.
- Tiếp thu và phát triển các lý thuyết của các nhà kinh tế đã công bố về các quá trình phát triển nông nghiệp, Peter Timmer phân quá trình phát triển nông nghiệp của một nước thành 4 giai đoạn [dẫn theo 69]. Mỗi giai đoạn kèm theo các chính sách thích hợp của chính phủ cần ban hành. Giai đoạn 1 được đặc trưng bởi năng suất lao động nông nghiệp tăng lên và lao động trong lĩnh vực chuyển sang các lĩnh vực khác một cách chậm chạp. Do vậy, chính sách của chính phủ giai đoạn này là tập trung vào đầu tư đẩy mạnh nghiên cứu khoa học và tạo ra công nghệ mới, đầu tư vào kết cấu hạ tầng nông thôn, tạo ra cơ cấu thị trường và giá cả có lợi cho nông dân nhằm kích thích phát triển sản xuất và áp dụng công nghệ mới.
Giai đoạn 2 là giai đoạn nông nghiệp đóng góp cho nền kinh tế, lĩnh vực nông nghiệp nhờ tạo ra sản phẩm dư thừa, sẽ chuyển các nguồn lực tài chính và lao động sang các khu vực khác của nền kinh tế với tốc độ nhanh, chủ yếu đầu tư cho quá trình công nghiệp hóa. Chính sách của chính phủ trong giai đoạn này là tiếp tục duy trì tăng trưởng ổn định cho lĩnh vực nông nghiệp. Giai đoạn 3 lĩnh vực nông nghiệp tham gia mạnh hơn vào quá trình phát triển kinh tế thông qua kết cấu hạ tầng cải thiện, thị trường lao động và thị trường vốn phát triển, thúc đẩy sự liên kết giữa kinh tế nông thôn và thành thị. Lĩnh vực nông nghiệp sẽ chịu ảnh hưởng nhiều hơn bởi giá cả thay đổi và bởi các vận động vĩ mô trong kinh tế thương mại.
Trong giai đoạn này, lao động nông nghiệp sẽ giảm xuống và chuyển tài nguyên cũng như lao động từ nông nghiệp sang các lĩnh vực khác của nền kinh tế sẽ bị chững lại. Chính sách của chính phủ trong giai đoạn này cần thúc đẩy tính hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp, điều tiết thu nhập giữa nông thôn và thành thị. Giai đoạn 4 được đặc trưng bởi hoạt động sản xuất nông nghiệp trong nền kinh tế công nghiệp, trong đó lao động nông nghiệp chiếm tỷ lệ thấp và ngân sách chi cho nhu cầu tiêu thụ lương thực và thực phẩm chiếm phần nhỏ trong ngân sách chi tiêu của các gia đình thành thị. Nếu theo mô hình này, Việt Nam đang ở đầu giai đoạn phát triển thứ nhất và có một số lĩnh vực có sự gối đầu sang giai đoạn thứ 2.
e - Với công trình đoạt giải Nobel năm 1993 “Áp dụng lý thuyết kinh tế và phương pháp định lượng trong giải thích các thay đổi về kinh tế và tổ chức” của Douglass C.North [dẫn theo 69], Ông chia quá trình phát triển của mỗi nền kinh tế thành 4 thời kỳ tùy theo chi phí thông tin và cưỡng chế thực hiện hợp đồng của mỗi thời kỳ: đó là thời kì tự cung, tự cấp trong quy mô nông nghiệp làng xã; thời kỳ sản xuất hàng hóa nhỏ, quan hệ sản xuất kinh doanh vươn ra ngoài phạm vi làng xã, tới mức vùng; thời kì sản xuất hàng hóa quy mô trung bình và thời kì sản xuất hàng hóa với quy mô lớn. - Vấn đề phân bố không gian của ngành nông nghiệp (Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp) đã có sức thu hút mãnh mẽ sự chú ý của nhiều nhà khoa học. Người đầu tiên đưa ra ý tưởng về tổ chức lãnh thổ sản xuất nông nghiệp là nhà khoa học người Đức J. Đầu những năm 1800, Ông đã đề xuất "lí thuyết vành đai giữa trung tâm và ngoại vi" [135].
Dựa trên các kết quả tính toán của mình, Thunen kết luận về vai trò của thành phố đối với sự phát triển nông nghiệp. Nếu vùng sản xuất ở quá xa trung tâm thành phố thì chi phí vận chuyển sẽ rất cao, hay ở quá gần trung tâm đô thị thì giá địa tô chênh lệch cũng rất lớn. Cả hai trường hợp trên đều không thu được lợi nhuận tối đa. Một sản phẩm nông nghiệp thu được lợi nhuận tối đa sẽ có một khoảng cách tương ứng nhất định với nơi tiêu thụ.
Khi chi phí vận chuyển biến thiên, trên vùng sản xuất nông nghiệp sẽ xuất hiện các vành đai sản xuất.