Tổng quan nghiên cứu

Hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi tại Việt Nam chiếm khoảng 1,2 triệu ha, tương đương 3,5% tổng diện tích tự nhiên cả nước, tập trung nhiều tại vùng Bắc Trường Sơn với 249.000 ha. Tại huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An, khu vực vùng đệm và vùng lõi Vườn Quốc gia Pù Mát sở hữu hơn 67.000 ha rừng với độ che phủ trên 70%, đóng vai trò then chốt trong việc duy trì nguồn nước và bảo vệ sinh kế cho 80% đến 90% cộng đồng dân cư địa phương sống phụ thuộc vào rừng. Tuy nhiên, hoạt động khai thác quá mức trong quá khứ cùng tác động của biến đổi khí hậu đã khiến diện tích rừng tự nhiên trên núi đá vôi bị suy thoái nghiêm trọng, làm gián đoạn quy luật tái sinh tự nhiên và xói mòn tầng đất mặt.

Nghiên cứu được triển khai nhằm xác định đặc điểm cấu trúc tầng cây cao, đánh giá động lực tái sinh tự nhiên và làm sáng tỏ quy luật phân bố của các quần xã thực vật trên núi đá vôi tại ba xã Môn Sơn, Châu Khê và Lục Dạ thuộc huyện Con Cuông. Mục tiêu cốt lõi là cung cấp hệ thống dữ liệu lâm học định lượng, phục vụ công tác điều tiết mật độ cây đứng trong khoảng 477 đến 510 cây/ha, nâng cao độ tàn che lên trên 0,6 và bảo tồn nguồn gen của 986 loài thực vật bản địa quý hiếm đã được ghi nhận tại địa phương.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các trạng thái rừng thứ sinh phục hồi trên đất đá vôi kiệt nước ở độ cao dưới 700m so với mực nước biển. Về mặt thực tiễn, các kết quả thu được là căn cứ khoa học trực tiếp để chuyển đổi từ phương thức khoanh nuôi thuần túy sang các biện pháp can thiệp kỹ thuật lâm sinh có mục đích, gia tăng trữ lượng gỗ từ mức nghèo kiệt hiện tại lên trạng thái rừng ổn định, bảo tồn tính đa dạng sinh học và phát huy tối đa chức năng phòng hộ đầu nguồn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng hệ thống phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam do Thái Văn Trừng xác lập năm 1978, dựa trên nền tảng thuyết sinh thái phát sinh quần thể của Arthur Tansley và Vladimir Sukachev. Lý thuyết này phân tích sự hình thành của các ưu hợp thực vật dưới tác động tổng hòa của các nhân tố ngoại cảnh, trong đó đất đá vôi xương xẩu là nhân tố lập địa giới hạn. Kết hợp với đó là quan điểm phân tầng hình thái và cấu trúc rừng nhiệt đới của Richards và Catinot, giúp phân tích không gian dinh dưỡng theo phương thẳng đứng và phương ngang.

Mô hình nghiên cứu định lượng được xây dựng trên cơ sở chỉ số giá trị quan trọng sinh thái (Important Value - IV%) do Daniel Marmillod đề xuất, tích hợp cùng các thước đo đa dạng sinh học của Simpson, Margalef và chỉ số mức độ thân thuộc loài của Sorenson. Nghiên cứu tập trung vào năm khái niệm chuyên ngành then chốt:

  1. Quần xã thực vật rừng (tập hợp các loài cây gỗ cùng tồn tại với độ tàn che từ 0,3 trở lên).
  2. Ưu hợp thực vật (nhóm dưới 10 loài chiếm 40% đến 50% tổng số cá thể hoặc thể tích).
  3. Kiểu phụ thổ nhưỡng kiệt nước trên đất đá vôi xương xẩu (trạng thái lập địa có tầng đất mặt mỏng, giàu mùn trong hốc đá).
  4. Giá trị quan trọng sinh thái IV% (trung bình cộng giữa tỷ lệ phần trăm số cá thể và tỷ lệ phần trăm tiết diện ngang).
  5. Tái sinh tự nhiên (quá trình sinh học thay thế thế hệ cây mẹ già cỗi bằng lớp cây mạ và cây con).

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa điều tra khảo sát theo tuyến bao quát địa hình và phương pháp lập ô tiêu chuẩn điển hình tạm thời. Tổng cỡ mẫu gồm 22 ô tiêu chuẩn với diện tích từ 500 m2 đến 1.000 m2 mỗi ô (tổng diện tích điều tra đạt 15.000 m2), phân bố đều tại 3 xã đại diện: Môn Sơn (7 ô tiêu chuẩn), Châu Khê (10 ô tiêu chuẩn) và Lục Dạ (5 ô tiêu chuẩn). Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được lựa chọn nhằm thu thập chính xác dữ liệu của các kiểu phụ thứ sinh đặc trưng trên địa hình phân cắt phức tạp có độ dốc trung bình trên 25 độ.

Tại mỗi ô tiêu chuẩn, tiến hành đo đếm toàn bộ tầng cây gỗ có đường kính ngang ngực từ 6 cm trở lên bằng thước kẹp kính (độ chính xác mm) và đo chiều cao vút ngọn bằng thước Blumeleiss (độ chính xác dm). Độ tàn che được định lượng bằng máy quang học KB-2 thông qua 100 điểm quan sát phân bố đều. Để điều tra lớp cây tái sinh, bố trí 5 ô dạng bản diện tích 4 m2 tại 4 góc và tâm ô tiêu chuẩn (tổng số 110 ô dạng bản). Tương tự, điều tra tầng cây bụi và thảm tươi qua 110 ô dạng bản diện tích 25 m2.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích toán học sinh thái là nhằm loại bỏ các đánh giá định tính cảm tính, giúp lượng hóa chính xác mức độ ưu thế tương đối của từng loài cây gỗ trong điều kiện lập địa khắc nghiệt. Toàn bộ tiến trình điều tra thực địa và xử lý dữ liệu nội nghiệp được thực hiện bài bản trong khung thời gian từ năm 2010 đến năm 2011.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình điều tra thực địa đã xác định được ba quần xã thực vật rừng điển hình thuộc kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới (Rkx) tại vùng núi đá vôi huyện Con Cuông:

  • Quần xã Dẻ + Máu chó + Nhọc (Đk1.a): Ghi nhận 18 loài cây gỗ tham gia cấu trúc tầng tán, trong đó 5 loài ưu thế tạo thành công thức tổ thành chiếm tới 73,54% giá trị quan trọng (IV%). Riêng loài Dẻ chiếm vị trí vượt trội với tỷ lệ cá thể đạt 35,64% và IV% đạt 49,70%. Mật độ toàn lâm phần đạt 477 cây/ha với tổng tiết diện ngang tầng cây gỗ là 13,56 m2/ha.
  • Quần xã Re + Côm + Bời lời (Đk1.b): Có 16 loài cây gỗ xuất hiện, trong đó 6 loài chủ chốt chiếm 78,68% tổng giá trị IV%. Hai loài ưu thế sinh thái ngang nhau là Re (IV% đạt 27,07%) và Côm (IV% đạt 23,75%). Mật độ quần xã đạt 486 cây/ha với tổng tiết diện ngang 11,76 m2/ha.
  • Quần xã Cà ổi + Đái bò + Chắp + Bứa (Đk1.c): Bao gồm 16 loài cây gỗ, trong đó 4 loài chính chiếm 75,19% giá trị quan trọng. Cà ổi là loài chiếm ưu thế tuyệt đối với IV% đạt 39,16% và mật độ 174 cây/ha. Mật độ bình quân toàn quần xã đạt cao nhất với 510 cây/ha và tổng tiết diện ngang đạt 12,51 m2/ha.
  • Đánh giá trạng thái lâm phần: Cả ba quần xã đều có đường kính ngang ngực bình quân từ 14,24 cm đến 17,29 cm, chiều cao vút ngọn bình quân từ 16,33 m đến 18,22 m. Tiết diện ngang của các cây có đường kính trên 40 cm đều nhỏ hơn 5 m2/ha, phản ánh trạng thái rừng nghèo (IIIA1) theo thang phân loại Loestchau.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến sự phân hóa tổ thành loài và mức độ nghèo kiệt về trữ lượng là do điều kiện khắc nghiệt của cảnh quan Karst với tỷ lệ đá lộ đầu dao động từ 45% đến trên 70%. Đất mặt mỏng, kiệt nước nhanh sau mưa và chỉ tích tụ tại các hốc đá có mùn hữu cơ. Điều này tạo áp lực chọn lọc tự nhiên gay gắt, chỉ những loài cây rễ cọc bám sâu, có khả năng chịu khô hạn và ưa canxi như Dẻ, Re, Cà ổi mới duy trì được mật độ lớn.

Khi so sánh với các nghiên cứu tại các khu rừng lá rộng thường xanh trên núi đất ở khu vực Bắc Trung Bộ (nơi mật độ cây gỗ thường đạt trên 700 cây/ha và tổng tiết diện ngang vượt 25 m2/ha), cấu trúc rừng trên núi đá vôi tại Con Cuông có mật độ thấp hơn khoảng 30% đến 40% và sinh khối giảm hơn một nửa. Tuy nhiên, tính thích nghi sinh thái của các loài bản địa tại đây lại rất cao, tạo nên quần xã bền vững tương đương với các kiểu rừng Karst tại Vườn Quốc gia Cúc Phương và Khu bảo tồn Pù Luông.

Dữ liệu phân bố cấu trúc của các lâm phần có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua đồ thị đường cong phân bố số cây theo cấp đường kính (phân bố giảm hình chữ J ngược) và biểu đồ phẫu diện ngang của tán rừng. Việc mô hình hóa này cho thấy tầng vượt tán hầu như vắng bóng các cây gỗ lớn trên 50 cm, tán rừng bị phân cắt mạnh và tầng cây tái sinh tập trung chủ yếu ở cấp chiều cao dưới 1 m, phụ thuộc chặt chẽ vào các lỗ trống tán cây.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm phục hồi bền vững hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi tại Con Cuông, bốn nhóm giải pháp kỹ thuật lâm sinh và quản lý cần được thực hiện đồng bộ:

  • Triển khai khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên có tác động: Thiết lập ranh giới bảo vệ nghiêm ngặt đối với 100% diện tích rừng thứ sinh hiện có. Tiến hành tra dặm bổ sung các loài cây bản địa có giá trị kinh tế và sinh thái cao (như Côm, Bời lời, Dung) với mật độ mục tiêu đạt trên 2.500 cây tái sinh triển vọng/ha trong khung thời gian 3 năm, do Ban quản lý Vườn Quốc gia Pù Mát chủ trì phối hợp cùng các hộ nhận khoán bảo vệ rừng.
  • Điều tiết cấu trúc tầng tán và vệ sinh lâm phần: Áp dụng biện pháp phát dọn dây leo, cây bụi chèn ép quanh gốc cây tái sinh mục đích và chặt tỉa vệ sinh các cây sâu bệnh, cụt ngọn. Mục tiêu nâng độ tàn che từ mức trung bình 0,4 lên 0,7 và tăng tốc độ tăng trưởng đường kính bình quân thêm 15% đến 20% trong giai đoạn 24 tháng, do Hạt Kiểm lâm huyện Con Cuông hướng dẫn kỹ thuật.
  • Bảo tồn và nuôi dưỡng cây mẹ gieo giống: Kiểm kê và gắn biển quản lý đối với các cá thể cây mẹ có đường kính trên 30 cm của các loài Côm, Dẻ, Bời lời để bảo tồn nguồn hạt giống tại chỗ, duy trì mật độ tối thiểu 15 đến 20 cây gieo giống/ha. Hoạt động này cần được thực hiện thường xuyên liên tục trong chu kỳ 5 năm bởi các tổ bảo vệ rừng cộng đồng.
  • Xây dựng mô hình đồng quản lý và tạo sinh kế thay thế: Hỗ trợ người dân bản địa chuyển đổi cơ cấu cây trồng nông lâm kết hợp tại vùng đất dốc chân núi, giảm thiểu 100% tình trạng chặt phá lấy gỗ và củi đốt trong rừng núi đá vôi. Mục tiêu ổn định thu nhập cho trên 80% hộ gia đình dân tộc thiểu số tại 3 xã Môn Sơn, Châu Khê và Lục Dạ trong giai đoạn 2026 - 2030, do Ủy ban nhân dân huyện Con Cuông phối hợp cùng các tổ chức phát triển nông thôn triển khai.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị thực tiễn cao cho bốn nhóm đối tượng chuyên ngành:

  • Ban quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên và Vườn quốc gia: Điển hình là Vườn Quốc gia Pù Mát, Vườn Quốc gia Cúc Phương và Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống. Các đơn vị này có thể khai thác trực tiếp dữ liệu về 22 ô tiêu chuẩn và danh mục thực vật để xây dựng quy hoạch phân khu phục hồi sinh thái, thiết lập các chỉ số giám sát đa dạng sinh học định kỳ.
  • Cán bộ kỹ thuật và kỹ sư lâm nghiệp địa phương: Cung cấp tài liệu tra cứu thực chứng về đặc tính sinh thái của các loài cây gỗ bản địa (Dẻ, Re, Côm, Cà ổi). Giúp lựa chọn chính xác loài cây phục vụ các dự án trồng rừng làm giàu trên đất đá vôi kiệt nước và xây dựng lịch trình điều tiết lâm sinh phù hợp.
  • Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học chuyên ngành Lâm học: Là tài liệu tham khảo học thuật giá trị về phương pháp ứng dụng chỉ số IV% của Marmillod và phân loại thảm thực vật của Thái Văn Trừng. Cung cấp bộ dữ liệu nền tảng cho các nghiên cứu chuyên sâu về động lực học quần xã rừng Karst nhiệt đới.
  • Các nhà hoạch định chính sách phát triển tài nguyên rừng cấp tỉnh: Phục vụ công tác xây dựng báo cáo quy hoạch 3 loại rừng tỉnh Nghệ An giai đoạn 2026 - 2035, đưa ra các định mức kinh tế kỹ thuật chính xác cho công tác khoanh nuôi bảo vệ rừng trên núi đá vôi.

Câu hỏi thường gặp

Đặc điểm cấu trúc nổi bật nhất của rừng trên núi đá vôi tại Con Cuông là gì?

Rừng tại Con Cuông mang đặc trưng của kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới nhưng có cấu trúc tầng tán bị đơn giản hóa do lập địa khô cằn. Nhóm 4 đến 6 loài cây gỗ ưu thế chiếm từ 73,54% đến 78,68% tổng giá trị quan trọng (IV%). Tỷ lệ đá lộ đầu cao từ 45% đến 70% khiến tầng cây cao chỉ đạt mật độ trung bình từ 477 đến 510 cây/ha.

Vì sao các quần xã nghiên cứu đều được xếp vào trạng thái rừng nghèo IIIA1?

Theo tiêu chuẩn phân loại của Loestchau, trạng thái IIIA1 được xác định khi tổng tiết diện ngang toàn lâm phần ở mức thấp (từ 11,76 đến 13,56 m2/ha) và tiết diện ngang của các cây gỗ lớn có đường kính trên 40 cm đạt dưới 5 m2/ha. Cấu trúc này hình thành do rừng đã trải qua quá trình khai thác chọn trong quá khứ khiến trữ lượng gỗ lớn bị suy giảm mạnh.

Chỉ số giá trị quan trọng IV% được tính toán như thế nào trong luận văn?

Chỉ số IV% của mỗi loài cây được tính bằng trung bình cộng giữa tỷ lệ phần trăm số cá thể loài đó so với tổng số cá thể lâm phần (N%) và tỷ lệ phần trăm tiết diện ngang thân cây của loài so với tổng tiết diện ngang (G%). Ví dụ, loài Dẻ trong Quần xã Đk1.a đạt N% là 35,64% và G% là 63,76%, cho ra giá trị IV% là 49,70%.

Tỷ lệ đá lộ đầu có ảnh hưởng như thế nào đến sự phân bố của các loài cây gỗ?

Tỷ lệ đá lộ đầu trên 70% hạn chế tối đa không gian phát triển của bộ rễ, khiến các loài cây gỗ rễ nông hoặc rễ cọc kém thích nghi bị đào thải hoàn toàn. Chỉ những loài cây có khả năng tiết axit hữu cơ hòa tan đá vôi và bám chặt vào các khe nứt như Cà ổi (mật độ 174 cây/ha) mới có thể sinh trưởng thành ưu hợp chiếm ưu thế.

Tại sao nghiên cứu khuyến nghị ưu tiên khoanh nuôi xúc tiến tái sinh thay vì trồng rừng mới hoàn toàn?

Trên nền địa hình đá vôi dốc trên 25 độ và đất mặt mỏng, việc đào hố trồng mới có tỷ lệ cây sống dưới 30% và chi phí rất cao. Ngược lại, tận dụng lớp cây con tái sinh sẵn có kết hợp tra dặm bổ sung giúp nâng mật độ cây mục đích lên trên 2.500 cây/ha, bảo tồn tối đa nguồn gen bản địa và giữ ổn định cấu trúc đất tự nhiên.

Kết luận

  • Nghiên cứu đã phân loại và mô tả chi tiết ba quần xã thực vật đặc trưng thuộc kiểu phụ thổ nhưỡng kiệt nước trên đất đá vôi tại ba xã Môn Sơn, Châu Khê và Lục Dạ (huyện Con Cuông), bao gồm quần xã Dẻ, quần xã Re và quần xã Cà ổi.
  • Cấu trúc tầng cây cao có mật độ dao động từ 477 đến 510 cây/ha, tổng tiết diện ngang đạt từ 11,76 đến 13,56 m2/ha, phản ánh trạng thái rừng thứ sinh nghèo kiệt sau khai thác nhưng đang trong tiến trình phục hồi tích cực.
  • Nhóm 4 đến 6 loài cây gỗ ưu thế sinh thái giữ vai trò quyết định cấu trúc quần xã, đóng góp từ 73,54% đến 78,68% tổng giá trị quan trọng (IV%), thích nghi hoàn hảo với nền lập địa có tỷ lệ đá lộ đầu từ 45% đến trên 70%.
  • Cung cấp cơ sở khoa học định lượng vững chắc giúp chuyển đổi từ quản lý bảo vệ thụ động sang can thiệp lâm sinh chủ động thông qua khoanh nuôi xúc tiến tái sinh và điều tiết không gian dinh dưỡng tầng tán.
  • Đóng góp trực tiếp vào chiến lược bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững hệ sinh thái rừng vùng đệm Vườn Quốc gia Pù Mát.

Để ứng dụng hiệu quả các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn, các nhà quản lý lâm nghiệp và chính quyền địa phương cần khẩn trương xây dựng kế hoạch hành động chi tiết trong 24 tháng tới. Hãy liên hệ với cơ quan quản lý chuyên môn để tiếp cận trọn vẹn bộ số liệu phân tích và tích hợp các giải pháp lâm sinh này vào quy hoạch phát triển lâm nghiệp bền vững tại địa phương.