CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU VÀ VÙNG NGHIÊN CỨU 1. Các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài 1. Nghiên cứu ngoài nước Đánh giá khả năng cấp nước liên lưu vực ở Tây Ban Nha. Việc chuyển nước ở Tây Ban Nha giữa các lưu vực Tagus-Segura-Ebro.
Lưu vực Segura là lưu vực có nghành nông nghiệp đóng vai trò chủ đạo nhưng lại thiếu nước trầm trọng. Để giảm mức độ căng thẳng về nước trên lưu vực Segura chính phủ đã quyết định chuyển nước từ lưu vực Tagus và Ebro để bổ sung cho lưu vực Segura (gồm cả nước mặt và nước dưới đất). Hiệu quả rõ rệt của việc chuyển nước là giảm được 50% mức độ căng thẳng về nước trên lưu vực Segura. Tuy nhiên việc chuyển nước này đã làm ảnh hưởng đến môi trường sinh thái trên lưu vực Tagus và Ebro là nguyên nhân gây ra những vấn đề xã hội.
Đó là sự phản đối mạnh mẽ của khu tự trị Aragon thuộc lưu vực Ebro, ảnh hưởng tới khai thác sử dụng cho người dân khu vực đồng bằng Ebro, một số nhà khoa học đã phản đối về những vấn đề về môi trường do việc chuyển nước là những nguyên nhân gây ra những cuộc biểu tình lớn ở Tây Ban Nha. Trong những năm gần đây, BĐKH và ảnh hưởng của BĐKH càng ngày càng gia tăng và đã gây ra nhiều hậu quả không thể lường trước được. Hầu hết các quốc gia trên toàn thế giới đã công nhận và xác định BĐKH là một trong những mối đe dọa có nguy cơ làm ảnh hưởng đến mọi mặt cả về kinh tế, xã hội, môi trường. Vấn đề về BĐKH luôn là tâm điểm trong những cuộc gặp mặt, hội nghị đa quốc gia, các tổ chức toàn cầu,….
BĐKH ảnh hưởng tới chế độ thủy văn và đi kèm với nó là ảnh hưởng đến nhu cầu sử dụng nước và khả năng cung cấp nước của các hệ thống thủy lợi. Trước tình hình đó đã có rất nhiều đề tài được thực hiện, trong số đó tác giả nhận thấy có rất nhiều những kết quả nghiên cứu có giá trị thực tiễn, tính ứng dụng cao như: Báo cáo công bố kết quả nghiên cứu “Impact of Climate Change on the Irrigation Water Requirement in Northern Taiwan” của hai tác giả người Đài Loan là Jyun-Long Lee và Wen-Cheng Huang được đăng trên tạp chí Water tháng 10 năm 2014. Theo đó hai tác giả đã nghiên cứu về tác động của BĐKH (theo kịch bản A1B) đến nhu cầu nước phục vụ tưới cho nông nghiệp của khu vực Taoyuan phía bắc Đài Loan. Mục tiêu nghiên AMPHONE SAKPASEUTH Trang - 5 Lớp 24Q21 c Luận văn thạc sĩ cứu là tính toán sự thay đổi của lượng mưa và nhiệt độ của thời kì tương lai (năm 2046- 2065) so với thời kì hiện tại (năm 2004-2001), sau đó kết hợp với tính toán cân bằng nước trên đồng ruộng và yêu cầu về nước tưới cho nông nghiệp trong tương lai để tìm ra ảnh hưởng của BĐKH đối với nhu cầu nước.
Theo nghiên cứu cho thấy chắc chắn trong tương lai dưới ảnh hưởng BĐKH sẽ dẫn tới lượng mưa và nhiệt độ sẽ tăng lên, điều này dẫn tới lượng mưa hiệu dụng và yêu cầu tưới cũng tăng theo. Kết quả so sánh giữa hai thời kì, trong tương lai yêu cầu tưới sẽ tăng gần 7,1% so với thời kì hiện tại. Nghiên cứu của các tác giả Fischer, G. và Wiberg,D trong bài báo “Climate Change Impacts on Irrigation Water Requirements: Effects of Mitigation.” đã được đăng trên tạp chí Technological Forecasting and socio- economic Social Change số 74 tháng 9 năm 2007 cũng đưa ra được những kết quả có giá trị.
Nghiên cứu dựa trên kịch bản kinh tế xã hội A2r của IIASA, kèm theo hoặc không kèm theo những ảnh hưởng BĐKH và tìm ra nhu cầu tưới cho nông nghiệp trong thời kì từ năm 1990 đến 2080. Kết quả chỉ ra rằng nếu có thể giảm nhẹ những tác động của BĐKH trong tương lai thì yêu cầu về nước tưới cho nông nghiệp cũng sẽ có xu hướng giảm theo. Nếu có thể giảm nhẹ những tác động của BĐKH, tăng khả năng tái sử dụng nước thì trong tương lai sẽ có thể giảm đến 40% (khoảng 125-160 tỉ m3) lượng nước sử dụng cho nông nghiệp so với việc không có phương án giảm nhẹ. Ngoài những ảnh hưởng có thể nhận thấy của BĐKH còn có những tác động của quá trình ĐTH cũng làm thay đổi nhu cầu sử dụng nước trong tương lai, theo Ruth Meinzen- Dick và Paul P.
Appasamy trong bài viết “Urbanization and Intersectoral Competition for Water” được đăng tải trên tạp chí Finding the Source: The Linkages Between Population and Water đã chỉ ra, từ thời điểm hiện tại đến năm 2025 quá trình đô thị hóa sẽ diễn ra nhanh chóng trên toàn thế giới, đặc biệt là tại các nước đang phát triển ở Châu Á và Châu Phi. Dân số đô thị sẽ tăng nhanh chóng, các khu công nghiệp được mở rộng cả diện tích lẫn quy mô dẫn tới các nhu cầu thiết yếu tăng theo, đặc biệt là nhu cầu về nước. Nước dùng cho nông nghiệp cũng tăng thêm để đảm bảo an ninh lương thực cho số dân ngày càng tăng. Tác giả chỉ ra thách thức rất lớn mà các nước đang phát triển sẽ phải đối mặt trong tương lai là phải đảm bảo nhu cầu nước cả về chất và lượng cho cả khu vực nông thôn và khu vực thành thị, mâu thuẫn giữa các ngành sử dụng nước.
AMPHONE SAKPASEUTH Trang - 6 Lớp 24Q21 c Luận văn thạc sĩ Trong vòng vài chục năm trở lại đây, tình trạng biến đổi khí hậu trên toàn cầu ngày càng tăng rõ nét, và những tác động xấu nghiêm trọng do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến trái đất là rất lớn, thể hiện cụ thể bằng các biểu hiện như: mực nước biển dâng, băng tan, tình trạng nắng nóng, bão lụt, hạn hán, dịch bệnh, thiệt hại kinh tế, giảm đa dạng sinh học, hủy diệt hệ sinh thái. Nắng nóng: Theo các chuyên gia khí tượng thủy văn, trong 50 năm trở lại đây, tần suất xảy ra các đợt nắng nóng đã tăng từ 2-4 lần. Nhiều khả năng trong 40 năm tới, số lượng các đợt nắng nóng sẽ tăng 100 lần. Theo đó, nắng nóng sẽ làm tăng số vụ cháy rừng, các loại bệnh dịch, và mức nhiệt độ trung bình trên hành tinh trong tương lai cũng sẽ tăng theo.
Băng tan: Nhiệt độ trái đất tăng cũng khiến chúng ta dễ dàng nhận thấy, diện tích của các dòng sông băng trên toàn thế giới đang dần bị thu hẹp lại. Vùng lãnh nguyên (vùng đất cao nơi cây cối không thể sinh trưởng và phát triển) từng bị lớp băng vĩnh cửu bao phủ, hay dưới tác động của nhiệt độ cao, lớp băng đã tan chảy và sự sống của các loài thực vật trên vùng đất này cũng đã xuất hiện. Nước biển dâng cao do nhiệt độ trái đất ngày càng tăng. Nó khiến cho các tảng băng tăng nhanh hơn, làm mực nước biển và đại dương trên toàn thế giới tăng theo.
Bão lụt: Đi kèm với hiện tương băng tan và nước biển dâng cao thì hiện tượng bão lụt cũng tăng. Theo số liệu thống kê cho thấy, chỉ trong vòng 30 năm gần đây, những cơn bão mạnh cấp 4 và cấp 5 đã tăng lên gấp đôi. Những vùng nước ấm đã làm tăng sức mạnh cho các cơn bão. Hạn hán: Chính mức nhiệt cao trên đại dương và trong khí quyển đã đẩy tốc độ cơn bão đạt mức kinh hoàng.
Khi một số nơi trên thế giới đang phải hứng chịu cảnh ngập lụt do mực nước biển dâng và bão lũ, thì ở nhiều nơi khác hạn hán lại đang hoành hành. Các chuyên gia ước tính tình trạng hạn hán sẽ tăng ít nhất 66% do khí hậu ngày càng ấm hơn. Hạn hán xảy ra thường xuyên sẽ thu hẹp nguồn cung cấp nước, làm giảm chất lượng các sản phẩm nông nghiệp, khiến nguồn cung ứng lương thực trên toàn cầu trở nên bấp bênh. Hiện nay Ấn Độ, Pakistan và vùng cận Sahara thuộc châu Phi đang phải hứng chịu các đợt hạn hán nghiêm trọng.
Giới khoa học dự báo lượng mưa tại các khu vực trên sẽ AMPHONE SAKPASEUTH Trang - 7 Lớp 24Q21 c Luận văn thạc sĩ tiếp tục giảm trong những thập kỷ tới. Hội đồng liên chính phủ về biến đổi khí hậu tại châu Phi cho rằng, tới năm 2020, sẽ có 75 – 250 triệu dân châu Phi không có nước sử dụng, và sản lượng nông nghiệp của châu lục này cũng sẽ giảm 50%. Dịch bệnh: Khi bão lụt và hạn hán tăng đang trở thành mối đe dọa lớn với sức khỏe dân số toàn cầu. Bởi bão lụt tạo môi trường sống lý tưởng cho các loài muỗi và ký sinh trùng, chuột và nhiều sinh vật mang bệnh khác phát triển mạnh.
Thiệt hại kinh tế: Không chỉ ảnh hưởng đến dịch bệnh, tác động của biến đổi khí hậu gây thiệt hại đến lĩnh vực kinh tế. Bão lụt sẽ gây tổn thất trong ngành nông nghiệp đã gây thiệt hại hàng tỷ USD. Bên cạnh đó, các chính phủ cũng cần một lượng tiền lớn để xử lý và kiểm soát sự lây lan dịch bệnh. Năm 2005, cơn bão lịch sử đã đổ bộ vào Louisiana, khiến mức thu nhập của người dân nơi đây giảm 15% trong những tháng sau cơn bão, và thiệt hại về tài sản ước tính khoảng 135 tỷ USD.
Trong khi người dân phải đối phó với giá lương thực và nhiên liệu tăng cao, thì các chính phủ cũng đang phải chịu sụt giảm doanh thu từ ngành du lịch, giảm lợi nhuận công nghiệp. Ngược lại, nhu cầu năng lượng, lương thực, nước sạch, chi phí cho hoạt động dọn dẹp sau thảm họa lại luôn tăng cao, kèm theo những bất ổn vùng biên giới. Theo dự đoán của Viện nghiên cứu Môi trường và phát triển toàn cầu tại Đại học Tufts, Mỹ, chi phí cho cuộc chiến chống biến đổi khí hậu tới năm 2100 sẽ đạt 20 ngàn tỷ USD. Giảm đa dạng sinh học: Nhiệt độ trái đất tăng cao cũng đẩy nhiều loài sinh vật tới bờ vực suy giảm số lượng hoặc tuyệt chủng.
Nếu mức nhiệt độ trung bình tăng từ 1,1C- 6,4C, 30% loài động thực vật hiện nay sẽ có nguy cơ tuyệt chủng vào năm 2050. Nguyên nhân dẫn đến sự tuyệt chủng là do môi trường sống của các loài động thực vật ngày càng bị thu hẹp, hiện tượng sa mạc hóa, phá rừng và nước trên các đại dương ngày càng ấm lên khiến cho nhiều loài sinh vật không thể thích ứng kịp thời với những biến đổi trên. Con người cũng không thể thoát khỏi những tác động của biến đổi khí hậu. Sa mạc hóa và mực nước biển tăng đe dọa trực tiếp đến môi trường sống của con người.