ĐẶT VẤN ĐỀ Theo Báo cáo triển vọng Môi trường toàn cầu của Liên Hợp quốc 2007, Biến đổi khí hậu (BĐKH) đã và đang diễn ra trên phạm vi toàn cầu. Đặc biệt, Việt Nam đứng thứ 5 trong danh sách các nước bị ảnh hưởng bởi khí hậu. BĐKH đang là vấn đề được cả thế giới quan tâm, là những thay đổi theo thời gian của khí hậu, bao gồm cả những biến đổi của tự nhiên và do con người gây ra. Các nguy cơ mà BĐKH có thể ảnh hưởng đến Việt Nam như sự dâng lên của nước biển, lũ lụt, bão.Trong bối cảnh BĐKH đã và đang gây ra các hậu quả nặng nề, Việt Nam coi ứng phó với BĐKH là vấn đề sống còn.
Biến đổi khí hậu gây ảnh hưởng đến nhiều mặt trong đó có đa dạng sinh học, đó là một trong các thành phần bị tác động trực tiếp và gây hậu quả rõ ràng. Biến đổi khí hậu sẽ làm thay đổi điều kiện môi trường sống gây ảnh hưởng đến sự phát triển, sinh sản và đời sống của các loài. Hơn nữa, BĐKH làm thay đổi sự phân bố của các loài, góp phần làm suy thoái đa dạng sinh học. Từ thực tế đó, việc đánh giá và dự đoán về ảnh hưởng của BĐKH đến phân bố của một loài sinh vật nào đó là hết sức quan trọng, có thể thấy được hiện trạng và xu hướng biến đổi của các loài nhằm đưa ra những quyết định quản lý cũng như bảo tồn một cách thích hợp nhất.
Chúng ta cũng biết rằng, các loài sinh vật muốn phát triển một cách bình thường cần phải có một môi trường sống phù hợp, tương đối ổn định về nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, đất đai, thức ăn, nguồn nước.và các loài sinh vật trong nơi sống đó. Chỉ một trong những nhân tố của môi trường sống bị biến đổi, sự phát triển của một loài sinh vật nào đó sẽ bị ảnh hưởng, thậm chí có thể bị diệt vong, tùy thuộc vào mức độ biến đổi nhiều hay ít. Theo dự báo, nếu không có biện pháp hữu hiệu để giảm bớt lượng khí nhà kính, nhiệt độ c 2 trái đất sẽ tăng thêm từ 1,80C đến 6,40C vào năm 2100, lượng mưa sẽ tăng thêm 5 -10%[12]. Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia có khu hệ thú linh trưởng đa dạng về thành phần loài ở khu vực Châu Á.
Các nghiên cứu gần đây đã ghi nhận ở Việt Nam có 6 giống với 25 loài và phân loài thuộc 3 họ: họ Cu li (Loridae), họ Khỉ (Cercopithecidae) và họ Vượn (Hylobatidae) của bộ linh trưởng (Primate) (Phạm Nhật, 2002; Brandon và cs. 2004; Đặng Ngọc Cần, 2008). Giống Chà vá (Pygathrix) thuộc Họ Khỉ (Cercopithecidae) đã được đưa vào Sách đỏ Việt Nam. Đây cũng là những loài động vật nghiêm cấm khai thác và buôn bán, được quy định trong Nghị định 32/2006/NĐ-CP và Nghị định 160/2013/NĐ-CP.
Giống Chà vá gồm có 3 loài: Chà vá chân xám, Chà vá chân nâu và Chà vá chân đen[14]. Chà vá chân đen (Pygathrix nigipes) là loài đặc hữu của Việt Nam và Campuchia. Theo danh mục Sách Đỏ thế giới (IUCN Red list, 2016) và sách đỏ Việt Nam (2007) Chà vá chân đen được xếp vào bậc Nguy cấp - EN. Qua các nghiên cứu trước đây cho thấy, loài Chà vá chân đen có phân bố và giới hạn hẹp.
Đồng thời, BĐKH tác động mạnh mẽ tới sinh cảnh, môi trường. Vì vậy, để góp phần đánh giá mức độ, phân bố và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và việc bảo tồn các loài quý hiếm này tại Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung, tôi chọn đề tài “Nghiên cứu dự đoán vùng phân bố của loài Chà vá chân đen (Pygathrix nigipes) dưới ảnh hưởng của biến đổi khí hậu”. c 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Họ khỉ - Cercopithecidae Tất cả các loài khỉ tại Châu Âu, Châu Á và Châu Phi đều thuộc họ Cercopithecidae.
Đặc điểm đặc trưng của các loài này bao gồm: chân sau dài hơn chân trước; đuôi không có khả năng cầm nắm, mũi và hàm hẹp. Dựa vào các đặc điểm giải phẫu thích nghi với các chế độ ăn khác nhau, họ này được chia thành hai phân họ. Các loài khỉ có túi má, phân họ Cercopithecidae, gồm 5 loài khỉ, Macaca. Chiều dài đuôi của các loài thuộc nhóm này có sự khác biệt nhau, túi ở má lớn, hàm dài, răng khỏe và dạ dày đơn giản.
Đây là nhóm động vật ăn tạp, trong tự nhiên hoạt động cả dưới mặt đất và trên cây. 10 loài voọc hay còn gọi là “Khỉ ăn lá”, 6 loài thuộc giống Trachypithecu, 3 loài thuộc giống Pygathrix và 1 loài thuộc giống Rhinopithecus là các đại diện thuộc phân họ khỉ thứ hai, họ Colobinae. Chúng có răng yếu và dạ dày kết túi. Nhóm này gồm các loài hoạt động hoàn toàn trên cây và ăn lá cây.
Quần thể của một số loài thuộc họ khỉ đang suy giảm mạnh do áp lực săn bắn[8]. Trên thế giới: có 81 loài. Ở Việt Nam: có 15 loài, bao gồm: 1. Khỉ đuôi lợn (Macaca leonina) 2.
Khỉ đuôi dài (Macaca fascicularis) 6. Voọc đen má trắng (Trachypithecus francoisi) 7. Voọc Hà Tĩnh (Trachypithecus hatinhensis) 8. Voọc mông trắng (Trachypithecus delacouri) 9.
Voọc đầu trắng (Trachypithecus poliocephalus) c 4 10. Chà vá chân nâu (Pygathrix nemaeus) 13. Chà vá chân đen (Pygathrix nigripes) 15. Voọc mũi hếch (Rhinopithecus avunculus) Chà vá là loài khỉ lớn so với những loài voọc khác, kích thước cơ thể dài từ 53 – 63cm.
Cơ thể có trọng lượng trung bình từ 5,3 – 11,5kg với nhiều màu sắc. Đuôi màu trắng với kích thước tương đương chiều dài của cơ thể. Chi sau dài hơn chi trước. Đầu không có mào nhọn trên đỉnh.
Lông ở trên đầu chải ngược về phía sau. Đôi mắt hình quả hạnh và góc mắt hơi nghiêng. Dương vật của con đực trưởng thành có màu đỏ. Màu sắc của con đực trưởng thành và con cái như nhau ngoại trừ ở con đực có một túm lông trắng ở phía trên mỗi góc hình tam giác ở gốc đuôi.
Màu lông con non của 3 loài chà vá tương đối giống nhau với màu vàng cam, khuôn mặt hơi đỏ xanh, mắt màu vàng sáng. Đỉnh đầu có màu hơi đỏ đen, dọc theo sống lưng có một đường màu đen. Màu sắc của 3 loài đã có sự khác biệt rõ ràng. Chà vá chân xám và Chà vá chân đỏ khuôn mặt có màu vàng cam.
Chà vá chân đen khuôn mặt có màu xanh. Màu lông phía sau lưng đậm hơn so với Chà vá chân đỏ, nhưng màu lông ở phía trước bụng lại sáng hơn. Chi sau 3 loài có màu sắc được thể hiện ở tên gọi của mỗi loài: Chà vá chân đỏ có màu nâu đỏ, Chà vá chân đen có màu đen, Chà vá chân xám có màu xám tro[8]. Vùng phân bố giống Pygathrix Giống Pygathrix có phân bố giới hạn ở Việt Nam, Lào, Campuchia, phía đông của sông Mê Kông (Corbet và Hill, 1992).
Chà vá chân nâu (Pygathrix nemaeus) phân bố từ khoảng 19030’N đến 16000’N từ tỉnh Nghệ An đến Quảng Nam. Chà vá chân xám (Pygathrix cinerea) phân bố từ 15050’N đến c 5 14030’N ở huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam đến Khu bảo tồn Kon Cha Rang, tỉnh Gia Lai. Chà vá chân đen (Pygathrix nigripes) phân bố từ 14030’N đến 11000’N bao gồm khu vực Tây Nguyên, Nam Trung bộ và Đông Nam Bộ[8].1: Bản đồ phân bố các loài Chà vá ở Việt Nam c 7 Chà vá chân đen (Pygathrix nigripes) Chà vá chân đen là loài thú lớn: Dài thân – đầu 55 – 68cm; đuôi 64 – 70 cm; trọng lượng 8 – 11 kg. Loài chà vá chân đen có đôi chân dài màu xám thẫm [8].
Các ngón tay, ngón chân cũng có màu đen. Thân màu xám và có sự trộn lẫn của các màu đen, trắng và xám. Cánh tay dài, toàn bộ có màu xám. Khuân mặt màu xanh nhạt, xung quanh mắt màu sữa.
Trán màu đen. Đuôi dài vùng lông xung quanh cơ quan sinh dục có màu trắng. Tính tình nhút nhát, thường xuyên sống trên vùng cây cao và trung bình. Di chuyển bằng tứ chi dọc theo các cành cây lớn ở tầng cao trung bình.
Thức ăn bao gồm lá cây, cuống lá, chồi non, các loại quả và hạt cây. Chúng phân bố trong các khu rừng thường xanh, rừng nửa rụng lá và rừng ven sông phía Nam Việt Nam[8]. Tình trạng bảo tồn: - Tình trạng bảo tồn: NĐ 32/2006/NĐ-CP, nhóm IB/6 - Nghị định số 160/2013/NĐ-CP - SĐVN (2007): EN (Nguy cấp) - SĐ IUCN (2016): EN (Nguy cấp) - CITES: Phụ lục I Hình 1. Chà vá chân đen (Nguồn: www.
Nghiên cứu ảnh hƣởng của biến đổi khí hậu tới đa dạng sinh học ở Việt Nam 1. Phương pháp mô hình hóa vùng phân bố Mô hình hóa vùng phân bố (ENMs) là một phương pháp đánh giá điều kiện thích hợp cho một loài nhất định và là một mô hình ngày càng phổ biến trong nghiên cứu bảo tồn. c 8 ENMs xử lý các dữ liệu bằng chương trình thuật toán trên máy tính để tạo bản đồ dự đoán phân bố của các loài trong không gian địa lý, căn cứ vào các thông số môi trường (nồng độ chất ô nhiễm, nhiệt độ, độ cao, tốc độ gió,…) và các dữ liệu quan sát về loài đó. Việc áp dụng mô hình này bao gồm nội suy giữa các bản ghi dữ liệu bản ghi dữ liệu sẵn có giới hạn; nghiên cứu phân kỳ giữa phân phối tiềm năng và thực tế; cũng như thay đổi khí hậu hay các yếu tố khác (Andrew S, 2003).
Mô hình hóa vùng phân bố (ENMs) sử dụng mối quan hệ giữa các điểm quan trắc và các biến môi trường để tạo ra một bản đồ khu vực nơi mà các loài có thể tồn tại. ENMs có thể giúp xác định sinh cảnh, khu vực thích hợp cho một loài sinh sống (Peterson 2006; Pearson et al 2007,…). Ngoài ra, ENMs còn hỗ trợ đánh giá sự thay đổi của sinh cảnh trong khoảng thời gian dựa trên các kịch bản về sự thay đổi môi trường. ENMs có thể sử dụng nhiều biến khí hậu khác nhau, các dữ liệu thường được sử dụng trong mô hình ổ sinh thái là các chỉ số môi trường: Nhiệt độ, lượng mưa, độ cao,… (Vu Van Manh, Thach Mai Hoang, Pham Thanh Van, 2010) c 9 1.Mô hình Entropy cho sự phân bố các loài Mô hình Entropy phân bố các loài (MaxEnt) là mô hình phổ biến trong xây dựng mô hình ổ sinh thái của các loài.
MaxEnt là phương pháp được đánh giá vượt trội hơn so với các phương pháp khác (Elith et al. MaxEnt là phần mềm sử dụng phương pháp để dự đoán và mô phỏng vùng phân bố tiềm năng của các loài từ các thông tin hiện có (Phillips et al.