mở đầu rất quan trọng cho khoa học phục hồi rừng, song nó chưa chỉ ra được những giải pháp cụ thể để phục hồi rừng. Tuy nhiên, khoa học nghiên cứu về phục hồi rừng mới thực sự phát triển vào những năm 1950 trở lại đây. Điển hình là các nghiên cứu của Barnard (1950), Smith (1952) ở Malaysia và nghiên cứu của Lamprecht ở Venezuela (1954). Những kết quả nghiên cứu đó đều đi đến thống nhất rằng: cần lợi dụng triệt để thảm thực vật hiện có với các điều kiện lập địa khác nhằm duy trì tái sinh tự nhiên kết hợp với trồng bổ sung để phục hồi lại cấu trúc rừng gần giống ban đầu (Trích theo Đặng Xuân Quý, 2005).
Khi nghiên cứu về rừng nhiệt đới châu Á, Van Steenis (1956) đã đưa ra kết luận sau: tái sinh vệt thích hợp với những cây ưa sáng mọc nhanh, vòng đời ngắn; cây tái sinh phân tán, liên tục phù hợp với các loài ban đầu chịu bóng hoặc những loài ưa bóng (Trích theo Nguyễn Thị Ngọc, 2003). Ngoài ra, vấn đề được quan tâm nhiều hơn cả trong quá trình nghiên cứu về phục hồi rừng nhiệt đới, vẫn là hiệu quả lợi dụng tái sinh rừng của các biện pháp kỹ thuật lâm sinh. Trong đó, phải kể đến hệ thống các phương pháp xử lý và hiệu quả của nó đối với tái sinh rừng trong “Cơ sở sinh thái học và 10 kinh doanh rừng mưa” của G. Năm 1996, các nghiên cứu của Fedlmaner đã chỉ ra rằng, các nhân tố ảnh hưởng tới quá trình tái sinh phục hồi rừng chủ yếu là: điều kiện lập địa, thành phần loài, nguồn cây mẹ gieo giống,.
Song đó mới chỉ là nghiên cứu tổng hợp mà chưa chỉ ra được nhân tố nào ảnh hưởng mạnh mẽ nhất, và chưa đề cập đến nhóm nhân tố quan trọng là kinh tế xã hội. Năm 1975, khi phân tích sự phát triển của thảm thực vật thứ sinh, Whitimore đã nhấn mạnh; khoảng thời gian để các khu rừng tái sinh hạt đạt được tới trạng thái là rừng nguyên sinh có thể tới hàng trăm năm. Các khu rừng thuần loài được tạo thành bởi những loài mà hạt của chúng có thể nảy mầm và trụ được trên các khu đất trống vào thời điểm thích hợp và cần lợi dụng lớp cây chồi, xử lý thực bì theo băng rạch tránh phát trắng để sớm tạo hoàn cảnh rừng. Đặc biệt, các nghiên cứu về kỹ thuật làm giàu rừng cũng tương đối phát triển, từ năm 1965 đã nghiên cứu và đưa ra khái niệm làm giàu rừng là bổ sung các loài cây có giá trị kinh tế vào những nơi rừng đã phục hồi nhưng thiếu hụt loài cây có giá trị.
Đến năm 1989, Han Lamprecht và Aubreulle đã bổ sung thêm rằng, làm giàu rừng là lựa chọn tối ưu nhất cho lâm phần ban đầu không đủ loài cây tái sinh có giá trị kinh tế, từ đó đã xây dựng hoàn chỉnh phương pháp làm giàu rừng theo rạch (Trích theo Bùi Thị Vân, 2005).Wyatt - Smith (1995), làm giàu rừng là sự bổ sung những loài cây có giá trị kinh tế vào những nơi rừng đã phục hồi lớp cây che phủ thứ sinh hoặc cây bụi nhưng thiếu hụt những loài cây có giá trị. Wan Yu Sof (1998) cũng lưu ý khi chọn loài làm giàu rừng cần quan tâm đến các tiêu chí như: dễ tạo cây tái sinh, tỉ lệ nảy mầm cao, ra hoa kết quả hàng năm, sinh trưởng nhanh, đặc biệt thời kì đầu, chịu bóng nhẹ lúc non, có khả năng chịu đựng được sự cạnh tranh các cây khác, tự tỉa cành tốt,. (Trích theo Trần Minh Cảnh, 2009) 11 Ngoài ra, việc phân loại rừng - đối tượng phục hồi là cơ sở quan trọng cho đề xuất các biện pháp phục hồi. Hiện nay, trên thế giới có 2 quan điểm phân loại chính được ghi nhận là: quan điểm của E.
Bruenig (1998) dựa vào đặc điểm hiện trạng thảm thực vật che phủ, gồm 5 loại chính: các lâm phần rừng hỗn loài tự nhiên bị khai thác quá mức, các lâm phần rừng thứ sinh ở các giai đoạn phát triển khác nhau, các đám cây gỗ thứ sinh, trảng cỏ và các dạng thảm thực vật khác trên các loại hình thổ nhưỡng khác nhau. Theo quan điểm phục hồi rừng của tổ chức cây gỗ nhiệt đới quốc tế (ITTO, 2002) thì rừng thứ sinh nghèo được phân chia làm 3 loại phụ đó là: rừng nguyên sinh bị suy thoái (Degraded primary forest); rừng thứ sinh (Secondary forest); đất rừng bị thoái hoá (Degraded forest land). Các nghiên cứu trên, tuy ở những khía cạnh khác nhau song chủ yếu tập trung vào các hướng chính là: nghiên cứu về tái sinh và động thái ở rừng thứ sinh nghèo, phân loại rừng thứ sinh nghèo, các biện pháp kỹ thuật lâm sinh tác động và hiệu quả của các biện pháp đó,… Đây chính là những cơ sở khoa học, có ý nghĩa lớn lao, đặt nền móng cho khoa học phục hồi rừng nói chung và phục hồi rừng phòng hộ ven bờ sông suối nói riêng ngày nay. Tuy nhiên, về khía cạnh kinh tế xã hội - nhân tố có tác động lớn đến hiệu quả phục hồi rừng lại chưa được các nhà nghiên cứu quan tâm nhiều.
Quản lý lưu vực có sự tham gia Quản lý theo lưu vực sông là một hoạt động cần thiết và mang tính tất yếu của thời đại ngày nay. Trong đó, theo Heinz I và cộng sự, 2007 để quản lý lưu vực có hiệu quả thì việc phân quyền, khuyến khích sự tham gia của cộng đồng địa phương là thực sự cần thiết. Richard Aspinall và cộng sự (2000) cũng cho rằng, sự tham gia của người dân đã trở thành nhân tố đặc biệt quan trọng, ảnh hưởng quyết định đến sự thành bại của các chương trình quản lý tổng hợp tài nguyên nói chung và quản lý lưu vực sông nói riêng. Còn Klapporth (2000) thì 12 nhấn mạnh việc quản lý rừng phòng hộ ven bờ nên được xem như một phần của chương trình quản lý sử dụng đất bền vững của địa phương đó.
Đặc biệt những nơi được cho là điểm nóng về mức độ ô nhiễm, tình trạng xói mòn, sạt lở đất thì cần thiết phải tiến hành các biện pháp quản lý tổng hợp có sự tham gia (BMPs) để bổ trợ cho rừng phòng hộ ven bờ. Ngoài ra, trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu về lâm nghiệp cộng đồng nói chung, phục hồi rừng trên cơ sở cộng đồng và đã trở thành bài học thành công của rất nhiều quốc gia như: Ấn Độ, Băngladet, Philippin, Thái Lan,… Theo Poffenberger (2000) và Thakur (2001) thì sự thiếu tin tưởng giữa người dân địa phương với cơ quan lâm nghiệp, thiếu chính sách minh bạch để thực thi quản lý xã hội và quản lý rừng có người dân tham gia cũng là nguyên nhân dẫn đến mất rừng. Còn Gymour và Fisher (1997) cho rằng các hoạt động quản lý rừng cộng đồng có liên quan đến việc mở rộng trồng rừng trên diện tích đã mất rừng, ở mức độ nào đó khá hơn là việc phối hợp quản lý hoặc chuyển giao việc kiểm soát cho các cộng đồng (Chương “Lâm nghiệp cộng đồn”, Cẩm nang Lâm nghiệp, 2006). Vấn đề đặt ra là “Sự tham gia” đó đến đâu và ở mức độ nào thì hiệu quả? Nghiên cứu của Creighton (2004, trích theo Matthew, 2007) đã giải quyết được vấn đề đó bằng 4 cấp độ đánh giá sự tham gia của người dân là: (1) Được cung cấp thông tin; (2) Được nghe về một quyết định nào đó trước khi nó ra đời; (3) Được đóng góp ý kiến cho việc xây dựng quyết định; (4) Được quyền phủ quyết hay tán thành quyết định đó.
Nghiên cứu về rừng phòng hộ ven bờ Việc nghiên cứu về rừng phòng hộ ven bờ cũng như các giải pháp phục hồi rừng phòng hộ ven bờ vẫn còn là khá mới và hạn chế ở Việt Nam. Phần lớn các nghiên cứu trước đây mới chỉ tập trung vào phân cấp đầu nguồn mà chưa đặt vùng 13 ven bờ vào đúng vị trí tầm quan trọng của nó. Tuy nhiên, vào những năm 70 của thế kỷ XX đã bước đầu có một số công trình nghiên cứu về thuỷ văn rừng ít nhiều đề cập đến vấn đề này, mà một trong những nghiên cứu điển hình đó là: - Nghiên cứu của Bùi Ngạnh, Nguyễn Danh Mô (1977) và Nguyễn Ngọc Bích (1985) về sự biến đổi dòng chảy mặt của một số dạng rừng khác nhau. Các tác giả đã đề xuất những mô hình bố trí đai rừng giữ nước trong vùng đất dốc và ven lưu vực sông.
- Mặt khác, khi nghiên cứu về rừng phòng hộ ở các triền sông, Lê Đăng Giảng và Nguyễn Hoài Thu (1981) đã đề nghị: cần phải thiết kế rừng phòng hộ ở các triền sông sao cho phát huy tối đa khả năng giữ nước của nó. Song, đề tài chưa đưa ra được một mô hình hay biện pháp cụ thể nào cho rừng phòng hộ ở các triền sông. - Ngày 15/06/1990, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đã ký Quyết định số 219- CT về việc phê duyệt dự án đầu tư xây dựng vùng kinh tế phòng hộ xung yếu ven hồ Hoà Bình, theo đó thì vùng ven hồ Hoà Bình có chiều dài 200km, rộng trung bình 2km. Song, theo “Dự án đầu tư xây dựng hệ thống rừng phòng hộ đầu nguồn sông Đà”, tháng 10 năm 1990 của Viện Điều tra Quy hoạch rừng thì vùng phòng hộ xung yếu ven bờ hồ Hoà Bình chỉ được xác định trong phạm vi 200m.
Điều này chứng tỏ việc xác định ranh giới vùng phòng hộ ven hồ Hoà Bình là chưa thống nhất và chưa có đầy đủ cơ sở khoa học (Trích theo Phùng Văn Khoa, 2009) - Tác giả Vũ Anh Tuấn (2004), với luận án tiến sĩ: “Nghiên cứu biến động của lớp phủ thực vật đến quá trình xói mòn trên lưu vực sông”, đã đánh giá lớp phủ thực vật, đặc biệt độ che phủ của rừng phòng hộ ven bờ có quan hệ chặt đến rất chặt tới xói mòn lưu vực. Đồng thời tác giả đã đề xuất theo dõi, quản lý xói mòn trên các lưu vực sông bằng ảnh vệ tinh. - Năm 2005, với luận văn Thạc sĩ khoa học Lâm nghiệp: “Nghiên cứu đặc điểm vùng bán ngập của một số hồ trọng điểm ở miền Bắc Việt Nam và đề xuất 14 giải pháp trồng rừng phòng hộ ven hồ”, Âu Văn Bảy đã phân tích điều kiện lập địa và đề xuất được mô hình trồng rừng ven hồ. Song đề tài chưa đề cập nhiều đến các giải pháp về kinh tế xã hội nên tính thuyết phục của đề tài không cao.
- Nghiên cứu của GS.