Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm về rừng phòng hộ Theo luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004[15], rừng phòng hộ là loại rừng được sử dụng chủ yếu để bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn, chống sa mạc hóa, hạn chế thiên tai, điều hòa khí hậu góp phần bảo vệ môi trường. Khái niệm rừng phòng hộ đầu nguồn Theo Quyết định 186/2006/QĐ-TTG ngày 14/8/2006[21], đưa ra khái niệm về rừng phòng hộ đầu nguồn : Rừng phòng hộ đầu nguồn là rừng được xác lập nhằm tăng cường khả năng điều tiết nguồn nước của các dòng chảy, hồ chứa nước để hạn chế lũ lụt, giảm xói mòn, bảo vệ đất, hạn chế bồi lấp các lòng sông, lòng hồ. Rừng phòng hộ đầu nguồn được xác lập dựa trên các tiêu chí và chỉ số về diện tích, lượng mưa, độ dốc, độ cao, đất.
Quy mô của rừng phòng hộ đầu nguồn phù hợp với quy mô của lưu vực sông và việc quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn gắn với việc quản lý tổng hợp lưu vực sông. Quản lý rừng phòng hộ trên thế giới Trên thế giới phương thức quản lý rừng tập trung dưới dạng quản lý nhà nước hoặc tư nhân đã có lịch sử từ rất lâu đời. Tại Thổ Nhĩ Kỳ Baskent (2008) [39] đã đưa ra khái niệm Khung Quy hoạch Quản lý Rừng Đa tác dụng (Multiple-Use Forest Management Planning Framework) nhằm tích hợp các chức năng cơ bản của rừng như chức năng về sinh thái, kinh tế và xã hội trong quá trình quy hoạch và đưa ra những quyết định, chính sách quản lý bảo vệ và phát triển rừng. Bằng những kết quả nghiên cứu của mình, tác giả cũng đưa ra những tiêu chí căn bản cho các khu 5 rừng phòng hộ đặc trưng như rừng phòng hộ ven biển, rừng phòng hộ ven bờ sông, suối.
Chẳng hạn, đối với rừng phòng hộ ven bờ sông suối cần giữ đai rừng rộng 60 m đối với sông lớn, 30 m đối với suối và vùng đất ngập nước, 500 m đối với các hồ nước tự nhiên và 1km trở lên đối với các khu rừng ngập mặn ven biển. Tác giả cũng đề nghị không nên có bất kỳ hoạt động khai thác nào trong khu vực như vậy nhằm đảm bảo phát huy tối đa hiệu quả phòng hộ của đai rừng. Tại Hàn Quốc[nghiên cứu của tác giả Yeo-Chang cho thấy gần đây chính sách quản lý rừng của Hàn Quốc tập trung nhiều vào việc tạo điều kiện cho các chủ rừng trong khi đó quyền lợi của những người sống phụ thuộc vào rừng ở các khu vực lân cận bị xem nhẹ [13]. Đây chính là một trong những nguy cơ tiềm ẩn ảnh hưởng đến tính không bền vững trong quản lý rừng.
Còn Lee Soo-hwa chỉ ra rằng đất rừng tốt có thể thấm được khoảng 250 mm nước mưa trong một giờ. Tuy nhiên, cũng theo tác giả thì khi rừng không qua tác động cải thiện cấu trúc sẽ không tốt cho cải thiện nguồn nước thậm chí còn làm tăng sự thiếu nước do làm cho một lượng lớn nước bị ngăn giữ từ các tầng tán và bốc thoát hơi. Ngược lại, khi rừng được cải thiện tầng tán thì sẽ tạo điều kiện cho nước mưa thấm vào đất nhiều hơn, sự chiếu sáng sẽ làm cho các sinh vật đất như giun hoạt động tốt hơn vì vậy có tác dụng duy trì nguồn nước và cải thiện nguồn nước tốt hơn. Các khu rừng được cải thiện cấu trúc tốt đã được chứng minh là có tác dụng ngang bằng và đôi khi còn hơn cả các đập nước trong việc làm giảm các vấn đề do nước gây ra dù đó là lũ lụt hay hạn hán[13].
Ở Nê Pal, năm 1989 nhà nước thực hiện chính sách lâm nghiệp mới đó là chia rừng và đất rừng làm hai loại: Rừng tư nhân và rừng nhà nước cùng với hai loại sở hữu tương ứng là sở hữu rừng tư nhân và sở hữu rừng nhà nước[19]. Trong quyền sở hữu của nhà nước lại được chia theo các quyền sử 6 dụng khác nhau như: rừng cộng đồng theo nhóm sử dụng, rừng hợp đồng với các tổ chức, rừng tín ngưỡng, rừng phòng hộ. Nhà nước công nhận quyền pháp nhân và quyền sử dụng cho các nhóm sử dụng rừng. Trong những năm qua, Nepal đã giao khoảng 19000 ha rừng quốc gia cho các cộng đồng, đến năm 2002 đã có hơn 2000 nhóm sử dụng rừng được hình thành.
Những nghiên cứu về chính sách lâm nghiệp của Pandit và cộng sự năm 2009 đã cho thấy cần phải hỗ trợ các cộng đồng và nhóm sử dụng rừng trở thành những đơn vị có tư cách pháp nhân (dưới dạng hợp tác xã, hoặc công ty) có thể giao dịch với các tổ chức chính thống như ngân hàng và các đối tác trong và ngoài nước, để từ đó họ có thể ký kết các hợp đồng kinh tế nhằm hỗ trợ nâng cao sinh kế của người quản lý bảo vệ rừng. Đây có thể là bài học bổ ích cho điều kiện của Việt Nam. Ở Nhật Bản, hiện có khoảng 25 triệu ha rừng, trong đó: rừng cộng đồng chiếm 10%, rừng tư nhân chiếm 60%, rừng quốc gia chiếm 30%. Từ đam mê và quan tâm đến văn hóa, người Nhật đã học được cách cải tiến việc sử dụng bền vững và bảo tồn nguồn tài nguyên rất lớn.
Vì vậy, thực tế các mục tiêu chính trong pháp luật bảo vệ rừng và quản lý tài nguyên ở Nhật Bản đều được công bố rõ ràng, nhằm đẩy mạnh và phát triển bền vững dựa trên cơ sở lợi ích cộng đồng ngay từ những năm 1800[38]. Tại Châu Âu, phần lớn các nước phát triển như Thụy Điển, Phần Lan. trên các khu vực đỉnh đồi, ngọn núi cao người ta thường giữ khoảng 40-70% diện tích rừng phòng hộ, phần còn lại phía chân đồi được dùng cho các hoạt động chăn nuôi và canh tác nông nghiệp. Theo Parviainena[38], hệ thống quản lý rừng phòng hộ không nên là một phần độc lập mà phải là một phần của chiến lược quản lý tài nguyên rừng và tài nguyên thiên nhiên quốc gia.
Có một nghiên cứu khác rất đáng chú ý là nghiên cứu của Tole, ông đã chỉ ra những tồn tại cơ bản tại các nước đang phát triển làm hạn chế hiệu quả 7 của các chính sách quản lý rừng và đề xuất những giải pháp thích ứng[40]. Một trong những điểm đáng chú ý của đề xuất đó là: 1. Hạn chế sự chuyển giao quyền lực quản lý cho các địa phương – giải pháp là cho phép ban hành các quyết định quản lý rừng từ cấp hành chính thấp nhất nếu có thể. Thiếu cơ chế tổ chức quản lý hiệu quả về phân quyền quản lý ở cấp cơ sở - cần phân định rõ quyền hạn và sự phối hợp của các cơ quan quản lý rừng cấp cơ sở, có cơ chế hỗ trợ tài chính thích hợp từ các nguồn thu địa phương cho các cơ quan tham gia quản lý rừng.
Không hoặc thiếu cơ chế giải quyết xung đột – cần tạo cơ hội cho các bên hữu quan đối thoại, trao đổi và thống nhất quyền lợi cũng như trách nhiệm của họ. Thiếu tính đại diện – cần tạo điều kiện phát huy đầy đủ vai trò đại diện của các bên như khuyến khích sự tham gia của phụ nữ, vai trò của tri thức bản địa và văn hóa địa phương. Trong không ít trường hợp sự tham gia của phụ nữ đã góp phần to lớn làm giảm xung đột, tạo sự đồng thuận cao. Thiếu chính sách và chế tài bảo vệ người dân bởi sự xâm lấn và phá rừng từ các đối tượng khác – cần tạo cơ hội cho cơ chế phát huy luật lệ cộng đồng và những quy định ở địa phương.
Tóm lại có thể nói trên thế giới biện pháp quản lý, bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng đang được xem như một giải pháp hữu hiệu đối với việc bảo vệ tốt vốn rừng hiện có, giải quyết tình trạng diện tích và trữ lượng rừng giảm sút. Trong những năm gần đây đều có không ít những mô hình bảo vệ rừng thành công ở Nhật Bản, Indonesia, Philippin….đây là những mô hình, bài học quý báu cho việc xây dựng những giải pháp bảo vệ rừng trong đó có rừng phòng hộ đầu nguồn dựa vào cộng đồng ở nước ta. Quản lý rừng phòng hộ tại Việt Nam 1. Tổ chức bộ máy quản lý rừng phòng hộ Theo điều 20 của Quy chế Quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất là rừng tự nhiên[23] (Ban hành kèm theo Quyết định số: 08/2001/QĐ- TTg ngày 11 tháng 01 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ) quy định: 1.
Tuỳ theo quy mô, tính chất, mức độ quan trọng của mỗi khu rừng phòng hộ để thành lập Ban quản lý, trường hợp đặc biệt có quy mô diện tích tập trung từ 5.000 ha trở lên được thành lập Ban quản lý, hoạt động theo cơ chế đơn vị sự nghiệp kinh tế có thu. Ban quản lý rừng phòng hộ là chủ rừng, được giao đất lâm nghiệp và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chịu trách nhiệm quản lý, bảo vệ và xây dựng khu rừng đó; 2. Khu rừng phòng hộ có diện tích tập trung từ 20.000 ha trở lên, được tổ chức Hạt Kiểm lâm trực thuộc Ban quản lý rừng phòng hộ, đồng thời chịu sự chỉ đạo về chuyên môn nghiệp vụ của cơ quan Kiểm lâm cấp tỉnh; 3. Những khu rừng phòng hộ có diện tích dưới 5.000 ha (tập trung hoặc không tập trung) không thành lập Ban quản lý mà giao cho các tổ chức khác, hộ gia đình, cá nhân quản lý, bảo vệ, xây dựng.
Kinh phí để thực hiện nhiệm vụ này do ngân sách của tỉnh tài trợ; Trường hợp chưa giao cho chủ rừng cụ thể, Uỷ ban nhân dân các xã sở tại chịu trách nhiệm quản lý, bảo vệ và xây dựng rừng, đồng thời có kế hoạch trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền để từng bước giao đất, giao rừng cho các chủ rừng nêu trên; 4. Định suất biên chế Ban quản lý khu rừng phòng hộ được xác định theo diện tích khu rừng phòng hộ được Nhà nước giao, bình quân 1.000 ha rừng có một định suất biên chế, tối thiểu mỗi Ban quản lý được biên chế 7 người. Các nghiên cứu về quản lý rừng phòng hộ tại Việt Nam Quan điểm về quản lý bảo vệ rừng ở nước ta là: Bảo vệ có hiệu quả tài nguyên rừng chính là để nâng cao chất lượng cuộc sống cho cộng đồng dân cư thôn, bản. Công tác bảo vệ rừng cần phải được tiến hành đồng thời với sự phát triển kinh tế - xã hội và góp phần nâng cao thu nhập cho cộng đồng dân cư thôn, bản trên địa bàn.