CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC NGHE TIẾNG ANH CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC 1. Tổng quan các nghiên cứu liên quan 1. Tình hình nghiên cứu trong nước Việt Nam là một trong những quốc gia mà tiếng Anh là một trong những ngoại ngữ - công cụ giao tiếp chính nên việc giảng dạy tiếng Anh hết sức được chú trọng.
Điều đó được thể hiện thông qua Luật giáo dục Việt Nam, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã nâng cao tầm quan trọng của việc học tiếng Anh bằng cách đưa tiếng Anh vào giảng dạy ngay từ cấp tiểu học. Dạy và học ngoại ngữ ở Việt Nam đã rất nỗ lực song chưa thực sự hiệu quả và còn có nhiều hạn chế, vậy thì đâu là nguyên nhân? Có thể đó là do chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy, hay do phương pháp kiểm tra kết quả học tập đánh giá chưa đúng và chưa phản ánh thực chất, kết quả đánh giá chưa đáp ứng được yêu cầu và mục đích của việc kiểm tra đánh giá. Đã có rất nhiều các nghiên cứu nhằm đổi mới chương trình của Bộ GD và ĐT như: thay đổi giáo trình, sách giáo khoa, bồi dưỡng năng lực sư phạm và trình độ chuyên môn cho giáo viên, thay đổi phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập của người học…Tuy nhiên cần có sự hỗ trợ trong công tác dạy và học của chúng ta về mô hình kiểm tra đánh giá kết quả học tập của người học nhằm tác động trở lại quá trình dạy và học ngoại ngữ nói chung và tiếng Anh nói riêng. Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về các phương pháp nâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ nhưng những nghiên cứu ở Việt Nam chưa đầy đủ, cũng như chưa có những nghiên cứu sâu về năng lực học ngoại ngữ dựa trên khung đánh giá năng lực cụ thể.
Tiếng Anh tuy chỉ là một công cụ để giao tiếp nhưng phải làm thế nào để giảng dạy và học tập có hiệu quả: đổi mới phương pháp giảng dạy hay là điều chỉnh cách thức kiểm tra đánh giá hiện nay; Theo tôi đây là 2 vấn đề liên quan với nhau khá chặt chẽ. Mục tiêu và vai trò của việc dạy và học ngoại ngữ (Nguyễn Văn Tụ 2009) đã được tái khẳng định, mục đích của dạy ngoại ngữ được xác định chính là dạy năng lực giao tiếp hay nói cách khác là dạy kỹ năng giao tiếp cho sinh viên. Quan điểm 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com này hoàn toàn đúng đắn và đã được chứng minh bởi hàng loạt những yêu cầu của nhà tuyển dụng trong việc sử dụng thành thạo ngoại ngữ. Do vậy, học ngoại ngữ không chỉ đơn giản là học từ vựng, ngữ pháp mà còn học giao tiếp.
Để đạt được “cái đích” ở trên, vấn đề về năng lực đã được nhiều tác giả đề cập tới như Dương Thu Mai (2012), Vũ Thị Phương Anh & Nguyễn Bích Hạnh (2004)… Đa phần các tác giả phản ánh xu hướng mới để giáo dục đạt kết quả cao, đó là dựa vào năng lực. Nhà giáo dục phải biết dựa vào những vùng tiệm cận phát triển của người học để hỗ trợ người học trong việc khám phá năng lực bản thân, đạt được những thành tích cao nhất. Bên cạnh đó, các tác giả cũng đã nhấn mạnh vai trò quan trọng của ngoại ngữ trong chính sách giáo dục ngôn ngữ của Việt nam, tuy nhiên năng lực ngoại ngữ của sinh viên tốt nghiệp nói chung vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của đất nước. Ngoài ra nghiên cứu còn đi sâu vào việc nêu lên thực trạng học ngoại ngữ của các trường trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và đề xuất các giải pháp để cải thiện thực trạng đó là: thực hiện một cuộc cách mạng về cách quản lý giảng dạy tiếng Anh tại các trường, cho phép sinh viên tự tổ chức học tập tiếng Anh.
Năng lực là yếu tố cần thiết trong bất kỳ hoạt động nào. Các nghiên cứu gần đây đều chỉ rõ và nhấn mạnh vai trò của năng lực để thành công trong học tập. Dựa vào năng lực chung cho đến các năng lực thành phần, nghiên cứu của tác giả Nguyễn Quang Việt (2009) đã áp dụng vào công tác đào tạo nghề, học nghề cũng cần phải có năng lực. Tác giả nghiên cứu đã nhận diện một số vấn đề về thực trạng và đề xuất giải pháp thực hiện đánh giá kết quả học tập định hướng năng lực hành nghề trong các cơ sở nghề ở Việt Nam.
Học nghề cần đến yếu tố năng lực, vậy tại sao học ngoại ngữ lại không tận dụng yếu tố này? Nhìn chung các nghiên cứu đều chỉ rõ cái đích của dạy và học ngoại ngữ, đồng thời đề cập đến vai trò của năng lực trong học tập. Tuy nhiên, cần phát hiện ra những trở ngại trong học tập thì mới dựa vào năng lực để cải thiện được kết quả học tập. Nghiên cứu khoa học của hai tác giả Trịnh Vinh Hiển (2008) và Lê Thị Ánh Tuyến (2012) đã khảo sát về ý kiến của sinh viên chuyên Anh năm thứ nhất về kỹ 22 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com năng nghe, khó khăn về mặt học thuật và phi học thuật mà sinh viên chuyên Anh gặp phải trong quá trình luyện nghe, từ đó đề xuất các giải pháp để khắc phục những khó khăn và nâng cao hiệu quả trong việc nghe hiểu tiếng Anh cho sinh viên. Bên cạnh đó, luận văn tốt nghiệp thạc sỹ Trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN của tác giả Lê Thị Thu Huyền (2010), Nguyễn Văn Nam (2010) có đề cập đến những vấn đề trong kỹ năng nghe nói của sinh viên, những nguyên nhân và giải pháp.
Trong đó, tác giả nêu lên các vấn đề đến từ: bài khóa cần nghe, người nói, người nghe và môi trường nghe, từ đó đề xuất giải pháp cho 4 vấn đề này. Dùng phương pháp chính tả để cải thiện kỹ năng nghe là một phương pháp rất mới trong việc dạy và học tiếng Anh của học sinh, sinh viên Việt Nam. Một số nghiên cứu đã chứng minh phương pháp viết chính tả là một trong những hoạt động trong việc nâng cao năng lực nghe tiếng Anh cho người học. Tình hình nghiên cứu nước ngoài Trên thế giới có rất nhiều nghiên cứu về việc học ngoại ngữ từ rất lâu đời, tương tự như những nghiên cứu ở Việt Nam bàn về cái đích của dạy- học ngoại ngữ, cũng như nhấn mạnh tầm quan trọng của phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập.
Bài nghiên cứu có tựa đề “Are communicative language classes being tested communicatively?” (Ireland 2000) tạm dịch là: “Những lớp học giao tiếp ngôn ngữ có đang được đánh giá theo kiểu giao tiếp?” đã nhấn mạnh tầm quan trọng của mục tiêu học tập và phương pháp kiểm tra đánh giá sẽ ảnh hưởng tới phương pháp dạy. Hơn nữa, những nội dung được học sẽ phải được áp dụng ngay từ phương pháp học môn đó. Nằm trong chuỗi nghiên cứu về năng lực và kiểm tra đánh giá là nghiên cứu của Bachman (1990); Boddy và Langham (2000). Trong đó, các tác giả đề cập đến thành phần năng lực của ngôn ngữ, bao gồm: năng lực tổ chức sử dụng cấu trúc ngữ pháp và ngôn từ; và năng lực ngữ dụng và ngôn ngữ trong giao tiếp xã hội.
Cụ thể hơn, tác giả đã định nghĩa năng lực ngôn ngữ như là một cụm các thành tố được sử dụng trong giao tiếp thông qua ngôn ngữ, đồng thời một lần nữa tái khẳng định tác động của hình thức kiểm tra đánh giá với kết quả và quá trình học tập, các tác giả đã 23 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đặt ra câu hỏi liệu mục đích kiểm tra ngôn ngữ giao tiếp có thực sự khả thi? Kiểm tra ngôn ngữ giao tiếp nhằm mục đích cung cấp cho người kiểm tra những thông tin về năng lực của người học trong việc thực hiện những nhiệm vụ cụ thể bằng ngôn ngữ đích. Theo đó, bài báo phản ánh “Effective Communication Language Teaching in a Test- Preparation Class: Is it possible?” của tác giả Jibye Kim về việc dạy ngoại ngữ hiệu quả. Tác giả nêu ra câu hỏi hiện đang là mối quan tâm của nhiều giáo viên và nhà nghiên cứu: “Liệu có thể đạt được mục đích dạy giao tiếp hiệu quả trong một lớp học luyện thi?” Bài báo cũng đã đưa ra thực trạng việc học tiếng Anh luyện thi TOEFL và có đề xuất những giải pháp để cải thiện môi trường học tập, phương pháp và mục đích giảng dạy, từ đó nâng cao hiệu quả học kỹ năng nghe, nói cho sinh viên Hàn Quốc. Cũng với đề tài về năng lực học tập, tác giả Ella A.Erway (1984) đã đề cập đến các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình nghe hiểu, từ những nhân tố quan trọng nhất cho đến nhân tố ít quan trọng hơn.
Đồng thời ông cũng loại bỏ các nhân tố không ảnh hưởng đến quá trình nghe hiểu. Từ bài nghiên cứu này, rất nhiều các tác giả sau đó chỉ tập trung vào các yếu tố quan trọng như: nội dung bài khóa, giọng người nói, kiến thức về chủ đề nghe và đặc biệt là môi trường nghe… Hai tác giả T.Lobanova và Yu. Shunin (2008) cho rằng, năng lực giao tiếp ngôn ngữ bao gồm các khả năng và kỹ năng giao tiếp. Năng lực giao tiếp ngôn ngữ là cần thiết để lựa chọn nội dung học tập, và để hiểu rõ hơn về những kiến thức cần học, về loại kiến thức, kỹ năng, phẩm chất cần có cho những chuyên gia trẻ trong thế kỷ 21.
Năng lực giao tiếp ngôn ngữ là một hệ thống riêng đầy đủ về những chiến lược giao tiếp bằng lời hoặc bằng cử chỉ giao văn hóa được quy định bởi khả năng giao tiếp bằng ngôn ngữ, kiến thức chuyên môn, kỹ năng, kinh nghiệm có được, thái độ và những đặc điểm riêng biệt của một cá nhân nhằm đạt được mục đích giao tiếp và hiểu nhau trong các tình huống giao tiếp trực tiếp hoặc gián tiếp. Theo nhóm tác giả, năng lực ngôn ngữ bao gồm: năng lực từ vựng, ngữ pháp, ngữ nghĩa, âm vị, chính tả. 24 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nhắc đến các phương pháp cải thiện kỹ năng nghe cho sinh viên không chuyên phải kể đến bài nghiên cứu khoa học “Brief analysis of strategies to improve English listening comprehension competence among non-english undergraduate students” của tác giả Huaru Chen (2011). Nghiên cứu nhắc tới nhiều phương pháp áp dụng trong quá trình nghe như: đoán từ vựng, tốc ký, đón trước ý nghe, theo sát chủ đề chính của bài nghe… Đây cũng là phương pháp ông gợi ý áp dụng cho sinh viên các khối ngành không chuyên Anh ở Hàn Quốc.