đặt vấn đề hạ thấp mực nước trên sông Hồng. Đề tài cấp Nhà nước: “Nghiên cứu ứng dụng các giải pháp KHCN phòng chống hạn hán phục vụ phát triển nông nghiệp bền vững ở các tỉnh miền Trung”, 2007 - 2009 do TS. Lê Trung Tuân Viện Nước, Tưới tiêu và Môi trường, Viện Khoa học Thuỷ lợi Việt Nam làm chủ nhiệm, với mục tiêu nghiên cứu ứng dụng các giải pháp phòng chống hạn cho các tỉnh miền Trung. Các giải pháp đề xuất ứng dụng được chia thành 3 nhóm: (i) Thu trữ nước, bảo vệ đất và giữ ẩm; (ii) Quản lý vận hành công trình thuỷ lợi trong điều kiện hạn hán, chế độ tưới và (iii) Kỹ thuật tưới tiết kiệm nước.
Đề tài cấp Nhà nước:“Nghiên cứu dự báo hạn hán vùng Nam Trung Bộ và Tây Nguyên và xây dựng các giải pháp phòng chống”, mã số KC.22, thực hiện năm 2003 - 2005, do PGS. Nguyễn Quang Kim, trường Đại học thủy lợi (cơ sở 2) làm chủ nhiệm đã nghiên cứu hiện trạng hạn hán, thiết lập cơ sở khoa học cho quy trình dự báo hạn, cơ sở dữ liệu khu vực nghiên cứu để lập trình các phần mềm tính toán chỉ số hạn và phần mềm dự báo hạn khí tượng và thủy văn. Việc dự báo hạn được dựa trên nguyên tắc phân tích mối tương quan giữa các yếu tố khí hậu, các hoạt động ENSO và các điều kiện thực tế vùng nghiên cứu. Đề tài cấp Nhà nước:“Nghiên cứu xây dựng giải pháp tổng thể sử dụng hợp lý các dải cát ven biển miền Trung từ Quảng Bình - Bình Thuận”, mã số KC-08- 21 do Viện Địa lý thực hiện năm 2003 - 2005, chủ nhiệm TS.
Nội dung chính của đề tài là nghiên cứu tìm ra các giải pháp tổng thể bao gồm sự kết hợp của 4 hợp phần (giải pháp quy hoạch; giải pháp khoa học kỹ thuật; giải pháp tăng cường quản lý môi trường; giải pháp về chính sách) sử dụng dải cát ven biển miền Trung, trên cơ sở phân vùng sinh thái vùng cát ven biển và quy hoạch các ngành nghề cũng như việc đánh giá nguồn nước, các nguồn tài nguyên liên quan kết hợp với các kiến nghị về tăng cường cơ chế chính sách để đưa ra giải pháp tốt nhất. Dự án “Xây dựng bản đồ hạn hán và mức độ thiếu nước sinh hoạt ở Nam Trung bộ và Tây Nguyên” do PGS. Trần Thục (Viện Khoa học Khí tượng, 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thủy văn và Môi trường) làm chủ nhiệm, thực hiện trong ba năm, từ 2005 - 2008, đã đánh giá được mức độ hạn hán và thiếu nước sinh hoạt ở 9 tỉnh Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Trên cơ sở đó đã xây dựng được bản đồ hạn hán thiếu nước sinh hoạt trong vùng nghiên cứu.
Tuy nhiên, ở đây cũng chỉ xét đến hạn khí tượng, hạn thủy văn và hạn nông nghiệp. Đề tài “Nghiên cứu và xây dựng công nghệ dự báo và cảnh báo sớm hạn hán ở Việt Nam” dược Viện Khoa học Khí tượng, Thủy văn và Môi trường thực hiện từ năm 2005 – 2007, chủ nhiệm TS. Nguyễn Văn Thắng đã đánh giá được mức độ hạn hán ở các vùng khí hậu và chọn được các chỉ tiêu xác định hạn hán phù hợp với từng vùng khí hậu ở Việt Nam, đồng thời xây dựng được công nghệ dự báo và cảnh báo sớm hạn hán cho các vùng khí hậu ở Việt Nam bằng các số liệu khí tượng thuỷ văn và các tư liệu viễn thám để phục vụ phát triển kinh tế xã hội, trọng tâm là sản xuất nông nghiệp và quản lý tài nguyên nước trong cả nước. Đề tài cấp Nhà nước: “Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn điều hành cấp nước cho mùa kiệt đồng bằng sông Hồng” do GS.
Lê Kim Truyền là chủ nhiệm, được hoàn thành năm 2008 với mục tiêu đề xuất được cơ sở khoa học để điều hành cấp nước và phân phối nước cho toàn mùa kiệt và những năm hạn và đề xuất được quy trình vận hành các hồ chứa phục vụ phát điện và cấp nước trong thời kỳ mùa kiệt trên hệ thống sông Hồng. Tuy nhiên, đề tài mới xác định được các phương án điều tiết hồ chứa và điều hành các công trình lấy nước chính ở hạ du đồng bằng sông Hồng theo mô hình nước đến của các năm 2004, 2005 và năm có tần suất P = 85% Đề tài độc lập cấp Nhà nước: "Nghiên cứu giải pháp công trình điều tiết nước trên hệ thống sông Hồng mùa kiệt phục vụ phát triển kinh tế vùng đồng bằng Bắc Bộ" do Viện Thủy Công, Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam, chủ nhiệm PGS. Trần Đình Hòa (2007 - 2010): Với nhiệm vụ và mục tiêu là xây dựng công trình ngăn sông Hồng sẽ là một tổ hợp bao gồm nhiều hạng mục công trình, như: Ðập dâng nước, âu thuyền, các công trình nối tiếp hai bên bờ, các thiết bị quan trắc và điều hành hệ thống. Mấy năm qua, khi mùa khô đến, ngoài lưu lượng nước đã xả qua tua-bin theo kế hoạch phát điện, hồ Hòa Bình thường xuyên phải xả bổ sung nguồn nước xấp xỉ 1.200 m3/s để duy trì dòng chảy, nâng mực nước sông Hồng lên cao, nhằm đảm bảo cấp nước để sản xuất lúa ở đồng bằng Bắc Bộ.
Tuy 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhiên, lượng nước được sử dụng đối với ngành nông nghiệp thực tế chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ, phần còn lại chảy ra biển. Đề tài KHCN trọng điểm cấp Nhà nước, KC 08-23/06-10: “Nghiên cứu cơ sở khoa học quản lý hạn hán và sa mạc hóa để xây dựng hệ thống quản lý, đề xuất các giải pháp chiến lược và tổng thể giảm thiểu tác hại: nghiên cứu điển hình cho đồng bằng sông Hồng và Nam Trung Bộ” do Viện Địa Lý, Viện KH&CNVN thực hiện 2008 - 2010, chủ nhiệm TS. Nguyễn Lập Dân, đã xây dựng hệ thống quản lý hạn hán vùng đồng bằng sông Hồng và hệ thống quản lý sa mạc hoá vùng Nam Trung Bộ và đề xuất các giải pháp chiến lược và tổng thể quản lý hạn Quốc Gia, phòng ngừa, ngăn chặn và phục hồi các vùng hoang mạc hóa, sa mạc hoá, sử dụng hiệu quả tài nguyên nước góp phần ổn định sản xuất, phát triển bền vững KT - XH. Hầu hết các công trình nghiên cứu từ trước tới nay ở nước ta về hạn hán trên toàn lãnh thổ Việt Nam nói chung và khu vực đồng bằng sông Hồng nói riêng phần lớn tập trung lĩnh vực quy hoạch, nhưng đều là các quy hoạch đơn ngành chưa đảm bảo đầy đủ yêu cầu về mặt tổng hợp.
Điều này còn thể hiện rõ qua chức năng, nhiệm vụ của ban Quản lý quy hoạch lưu vực sông Hồng (trực thuộc Bộ NN&PTNT), tập trung chủ yếu trong công tác quản lý quy hoạch và sử dụng, bảo vệ nguồn nước có hiệu quả và xây dựng chiến lược phát triển thủy lợi trong giai đoạn 2010 – 2020. Để giảm nhẹ thiệt hại do hạn hán gây ra, chúng ta đã thực thi các giải pháp công trình, phi công trình, các giải pháp về chính sách, tổ chức, thể chế và xã hội. Tuy nhiên, trước tác động của biến đổi khí hậu, mặc dù tổng lượng mưa năm chỉ thay đổi không đáng kể, nhưng sự phân bố theo không gian và thời gian lại thay đổi rất lớn, mùa khô sẽ dài hơn trong khi mùa mưa ngắn lại và tập trung vào những trận mưa cường độ lớn hơn vì vậy hạn hán đều có nguy cơ cao hơn. Bên cạnh đó, những thay đổi với tốc độ nhanh về kinh tế, xã hội và môi trường, những thách thức trước hạn hán ngày càng gay gắt.
Những thách thức nêu trên đang là nguy cơ mất cân bằng cung - cầu về nguồn nước. Nguy cơ thiếu nước, hạn hán, nhất là trong mùa khô ở toàn lãnh thổ Việt nam nói chung và ở khu vực đồng bằng sông nói riêng đang diễn biến gay gắt. Vì vậy, việc đánh giá thực trạng hạn hán và xác định các chỉ số hạn phù hợp cho khu vực ĐBSH nhằm dự báo nguy cơ hạn hán ở đây trong tương lai là hết sức cần thiết, mang ý nghĩa thực tế cao nhằm giảm thiểu nguy cơ 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hạn hán và thiệt hại do hạn hán gây ra, phục vụ ngày càng hiệu quả hơn cho sản xuất, đời sống và môi trường. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƯƠNG 2 HIỆN TRẠNG HẠN HÁN VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG 2.
Điều kiện tự nhiên, KT-XH vùng ĐBSH 2. Điều kiện tự nhiên 2. Vị trí địa lý Vùng ĐBSH nằm ở phía Bắc Việt Nam, có tọa độ địa lý trong khoảng từ 20000' đến 21080' vĩ độ Bắc và từ 105030' đến 107000' kinh độ Đông, phía Đông giáp biển Đông, phía Tây giáp các tỉnh Hoà Bình và Phú Thọ, phía Nam giáp tỉnh Thanh Hoá, phía Bắc giáp các tỉnh Tuyên Quang, Thái Nguyên, Bắc Giang và Quảng Ninh. Gồm 10 tỉnh, Thành phố là: Hà Nội, Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Hải Dương, Bắc Ninh, Hưng Yên, Nam Định, Thái Bình, Hà Nam, Ninh Bình với diện tích tự nhiên 14822,5 km2.
Đây là vùng châu thổ có địa hình đồi núi bao quanh ở cả ba hướng Bắc – Tây và Nam, riêng phần phía Đông giáp với biển Đông là vùng đất được mở rộng ra như đáy của một tam giác với độ dài khoảng 130 km, có nhiều cửa sông lớn và vịnh biển kín (hình 2. Vị trí của vùng là nơi hội tụ đầu mối giao lưu phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội từ lâu đời của Việt Nam; với trung tâm là Thủ đô Hà Nội thông qua hệ thống đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không, tỏa đi khắp các miền, các vùng lãnh thổ trong cả nước, với các nước trong khu vực và trên thế giới. Vùng ĐBSH nằm trong khu vực KT-XH phát triển nhanh và năng động của cả nước, do đó có điều kiện tiếp thu, thừa hưởng lợi thế này trong quá trình xây dựng và phát triển. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1 Bản đồ vị trí vùng Đồng bằng sông Hồng 2.
Địa hình, địa mạo Địa hình của vùng có hướng thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, độ cao trung bình từ 0,4 m đến 12 m so với mặt nước biển. Toàn vùng có thể chia thành 4 dạng địa hình tương đối: vùng núi, vùng trung du, vùng đồng bằng và vùng ven biển. Vùng đồng bằng và ven biển có địa hình tương đối bằng phẳng, tuy nhiên ở mức độ chi tiết thì địa hình chia cắt khá phức tạp, điển hình là sự chênh lệch về độ cao và chia ô ở trung tâm vùng và ven biển (vùng Đồng bằng và Duyên hải).