Chương 1: TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước Trong quá trình phát triển lịch sử của giáo dục, Kiểm tra đánh giá được coi là một khâu có vai trò rất quan trọng. Đây là một khâu cung cấp thông tin, dữ liệu về sự vận động của quá trình dạy và học, KTĐG tạo cơ sở cho các chủ thể điều khiển sự vận động đó với chất lượng và hiệu quả cao hơn. KTĐG đã được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau nhằm hướng đến những mục đích khác nhau.
KTĐG là khâu cuối cùng và cũng là khâu quan trọng nhất bởi nó không chỉ cho ta biết quá trình đào tạo có đạt mục đích hay không mà còn cung cấp những thông tin hữu ích để điều chỉnh toàn bộ hoạt động xảy ra trước đó. Vì thế kiểm tra đánh giá sẽ định hướng cách dạy của thầy và cách học của trò sao cho hiệu quả nhất, nghĩa là cùng hướng tới đạt mục tiêu đã đề ra. Ngoài ra qua thông tin khai thác từ kiểm tra đánh giá sẽ rất hữu ích cho việc điều chỉnh phương pháp dạy của thầy và phương pháp học của trò, đồng thời giúp các nhà quản lý có những thay đổi cần thiết trong quá trình tổ chức đào tạo. Tuy nhiên trong thực tế, một vấn đề chung đặt ra là làm thế nào để KTĐG kết quả học tập của người học một cách chính xác, khách quan và công bằng.
Vấn đề này từ lâu đã nhận được nhiều mối quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học trong các lĩnh vực có liên quan. Trong trường hợp này, trắc nghiệm có thể được biểu hiện như một công cụ hữu hiệu trong việc đo lường và đánh giá kết quả học tập của người học. Các nghiên cứu của nước ngoài Ở các nước trên thế giới lĩnh vực khoa học đo lường trong giáo dục phát triển rất mạnh vào thời kì trước và sau chiến tranh thế giới thứ hai. Để đánh dấu một bước phát triển rất mạnh, lĩnh vực đo lường trong giáo dục có các dấu mốc quan trọng, một loạt các trắc nghiệm và kĩ thuật ra đời như: Trắc nghiệm trí tuệ Stanford-Binet xuất bản năm 1916, bộ trắc nghiệm thành quả học tập tổng hợp đầu tiên Stanford Achievement Test ra đời vào 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Với việc đưa vào chấm trắc nghiệm bằng máy của IBM năm 1935, việc thành lập National Council on Measurement in Education (NCME) vào thập niên 1950 và ra đời Educational Testing Services (ETS) năm 1947, một ngành công nghiệp trắc nghiệm đã hình thành ở Mỹ. Từ đó đến nay khoa học về đo lường trong tâm lý và giáo dục đã phát triển liên tục. Quá trình phát triển của khoa học đo lường trong giáo dục không phải không có những phản hồi mà quá trình phát triển này phải chịu những phê bình chỉ trích một cách thường xuyên, nhưng sự phê bình chỉ trích này không đánh đổ được khoa học đo lường trong giáo dục, mà làm cho khoa học đo lường trong giáo dục có cơ sở điều chỉnh những cái còn thiếu sót và khuyết điểm, những cái chưa làm được để cho khoa học ĐLĐG trong giáo dục phát triển mạnh mẽ hơn [19]. Ở Mỹ, lĩnh vực khoa học này phát triển mạnh vào thời kì trước và sau thế chiến thứ hai.
Đầu thế kỉ XIX, E. Thondike là người đầu tiên dùng trắc nghiệm như một phương pháp “khách quan và nhanh chóng” để đo trình độ kiến thức của học viên dùng với một số môn học và sau đó là đối với một số lĩnh vực kiến thức khác. Trắc nghiệm được sử dụng trong lĩnh vực giáo dục phát triển mạnh mẽ trong những năm 60 của thế kỉ XX. Năm 1963 xuất hiện công trình của Gedevik dùng máy tính điện tử để xử lý các kết quả TN trên diện rộng.
Ở Châu Âu, đặc biệt là Vào thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, việc sử dụng TN trong trường học được bắt đầu với các TN vấn đáp sau đó dần phát triển thành TN tự luận. Năm 1904 nhà tâm lí học người Pháp Alfred Binet đã xây dựng một số bài trắc nghiệm về trí thông minh. Ông đã xây dựng phương pháp để xác định những trẻ em bị tàn tật về mặt tâm thần, không thể tiếp thu được lượng kiến thức theo cách dạy bình thường ở nhà trường. Bộ câu hỏi của ông yêu cầu những kĩ năng tổng quát, cách lập luận thông thường và một kho những kĩ năng chung cho câu trả lời.
Điểm số được cho dựa theo tuổi trí lực. Tại Liên Xô (cũ), việc nghiên cứu kết quả của phương pháp TNKQ đã trở thành đề tài lớn của Viện hàn lâm khoa học giáo dục Liên Xô với nhan đề: 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com “Trình độ, kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo của học viên và các biện pháp ngăn ngừa tình trạng không tiến và lưu ban” do E.I Montzen chủ trì và sau đó nhiều công trình khác cũng lần lượt được công bố. Tại Nhật Bản, kì thi “Trắc nghiệm trung tâm quốc gia tuyển sinh đại học” duy trì từ năm 1990 đến nay với hình thức đề thi được soạn thảo hoàn toàn theo phương thức TNKQ. Tại Thái Lan và Trung Quốc đã tổ chức các kỳ thi tuyển sinh Đại học chủ yếu bằng TNKQ.
Các nước khác trong khu vực Châu Á cũng đã có một số cơ hội vững chắc về lĩnh vực này. Những năm gần đây, tại các nước trên thế giới, TNKQ đã được sử dụng rộng rãi trong quá trình giảng dạy ở Phổ thông cũng như ở Đại học. Phương pháp này từng bước được nghiên cứu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng. Như vậy, trên thê giới khoa học về đo lường và TNKQ xuất hiện từ rất xớm và nó đã nhanh chóng khẳng định vị trí ưu thế và được áp dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực của xã hội.
Các nghiên cứu ở Việt Nam Ở nước ta, nhìn chung vấn đề kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của người học bắt đầu được nghiên cứu khá muộn so với các nước có nền giáo dục phát triển. Khoa học về đo lường và sử dụng TNKQ ở nước ta còn phát triển chậm. Nội dung của các nghiên cứu trong nước có thể chia thành các xu hướng như sau: Thứ nhất, xu hướng phản ánh những kinh nghiệm thực tiễn trong lĩnh vực đánh giá tri thức học sinh, như các nghiên cứu của Nguyễn Lân, Lê Khanh,… Thứ hai, xu hường nghiên cứu một cách có hệ thống nhưng cơ sở lý luận chung của vấn đề đánh giá. Tuy nhiên, những tác giả nghiên cứu về vấn đề này không nhiều.
Chúng ta có thể kể đến một số tác giả tiêu biểu như: Dương Thiệu Tống, Nguyễn Phương Nga, Nguyễn Công Khanh, Lâm Quang Thiệp,…. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Dương Thiệu Tống (1995) trình bày chi tiết về các loại công cụ để đo lường đánh giá kết quả học tập của học sinh, cách thức thiết kế các loại đề thi trắc nghiệm đảm bảo độ tin cậy, độ giá trị và xác thực. Đồng thời ông cũng giải thích rõ các khái niệm liên quan đến đo lường thành quả học tập. Đặng Bá Lãm (2003) trình bày khá rõ về lịch sử phát triển các quan điểm về kiểm tra – đánh giá và theo đó là các khái niệm về lĩnh vực này.
Ông nêu ra những quy trình kiểm tra – đánh giá trong dạy học, phương pháp KTĐG cũng như ưu nhược điểm của những phương pháp này [10]. Nguyễn Công Khanh (2004) [8] trình bày chi tiết về phương pháp, quy trình, các nguyên tắc và thiết kế công cụ đo lường, các phương pháp phân tích item, chọn mẫu, đánh giá độ tin cậy,… Lê Thị Thu Liễu và Huỳnh Xuân Nhựt (2009) [11] tập trung nghiên cứu công tác đánh giá kết quả học tập của SV đại học – cao đẳng với những nội dung chủ yếu gồm quy trình đánh giá, nội dung đánh giá, hình thức đánh giá,… Kết luận của nghiên cứu: Hoạt động đánh giá kết quả học tập của SV tại các trường chưa được thực hiện một cách hệ thống và có khoa học. Ngoài ra, có thể kể đến một số nghiên cứu khác của Nguyễn Quốc Khánh (2005) với “ Chuẩn hóa hệ thống đánh giá kết quả học tập của SV”, Trần Thị Bích Liễu (2002) với “Đánh giá kết quả học tập của sinh viên sư phạm”, Lê Thị Hạnh (2008) với “ Nghiên cứu thực trạng về việc đánh giá kết quả học tập của sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương”, v. Xu hướng nghiên cứu thứ ba giới thiệu kết quả nghiên cứu và những kinh nghiệm của nước ngoài về vấn đề đánh giá tri thức của học sinh.
Lê Đức Ngọc (2004) đã tổng hợp các bài tham luận trong và ngoài nước trình bày các quan điểm và giải pháp về giáo dục đại học cho giai đoạn 1995 – 2000. Tác giả đề cập đến một số vấn đề như: cải tiến thi tuyển sinh đại học – một yêu cầu cấp thiết đề nâng cao chất lượng đào tạo; Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học [14]. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Vấn đề mà Hội thảo khoa học “ Vai trò của hoạt động kiểm tra – đánh giá trong đổi mới giáo dục VIệt Nam” (2004) đưa ra là: Làm thế nào để các thánh viên liên quan đến quá trình đào tạo và đánh giá học sinh có thể hiểu và chấp nhận rằng việc đánh giá học sinh quan trọng hơn việc cho điểm. Hội thảo đưa ra một số kết luận: GV còn thiếu kỹ năng đánh giá học sinh, chú trọng đến điểm số, chú trọng kiến thức và khả năng nhớ hơn là kỹ năng và năng lực học tập của học sinh trong kiểm tra – đánh giá; các kết quả kiểm tra thường dùng với mục đích là xếp loại học sinh hơn là để hướng dẫn, động viên học sinh [29].
Đối với việc sử dụng câu hỏi TNKQ cũng đã có các đề tài nghiên cứu như: Nguyễn Phụng Hoàng đã cho ra đời cuốn sách: “Phương pháp trắc nghiệm trong kiểm tra và đánh giá thành quả học tập”. Cuốn sách viết đại cương về các vấn đề đo lường, đánh giá, các phương pháp đo, cách soạn một bài trắc nghiệm khách quan,… tài liệu này rất bổ ích đối với các giáo viên và những người quan tâm đến việc đánh giá kết quả học tập của sinh viên [10]. Năm 2003, Khoa Sư phạm Đại học Quốc gia Hà Nội đã xuất bản cuốn “Giáo dục học Đại học”. Đây là cuốn tài liệu dùng để bồi dưỡng các lớp Giáo dục học đại học và Nghiệp vụ sư phạm đại học.
Trong phần 1 của cuốn sách, tác giả Lâm Quang Thiệp đã có bài viết về Đo lường và đánh giá thành quả học tập.