Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Công ước liên hợp quốc về biến đổi khí hậu - Trong những năm gần đây, đặc biệt trong ngữ cảnh chính sách môi trường, biến đổi khí hậu thường đề cập tới sự thay đổi khí hậu hiện nay, được gọi chung bằng hiện tượng nóng lên toàn cầu. Nguyên nhân chính làm biến đổi khí hậu Trái Đất là do sự gia tăng các hoạt động tạo ra các chất thải khí nhà kính, các hoạt động khai thác quá mức…đã và đang đe dọa nghiêm trọng đến hệ thống khí hậu trái đất.
Để bảo vệ hệ thống khí hậu trái đất, cộng đồng quốc tế đã có những nỗ lực nhằm ngăn chặn và giảm thiểu biến đổi khí hậu. - Công ước chung về biến đổi khí hậu của Liên Hợp Quốc (UNFCCC) đã được ký tại Rio de Janeiro - Brazil năm 1992. Cho đến nay đã có 194 nước thành viên phê chuẩn công ước này, nhằm ngăn chặn và giảm thiểu khí nhà kính (KNK) trong khí quyển ở mức có thể và hạn chế tất cả những hậu quả nghiêm trọng của biến đổi khí hậu. - Đến năm 1997 để đưa công ước đi vào hoạt động, nghị định thư Kyoto đã được công bố và đưa ra thảo luận, và được coi là “bước cam kết đầu tiên” với sự cam kết có tính pháp lý của 39 nước phát triển nhằm cắt giảm mức phát thải KNK của họ tối thiểu là 5,2% trong giai đoạn 2008 - 2012 so với mức năm 1990.
Cơ chế phát triển sạch (DCM) và thị trường Carbon 1. Cơ chế phát triển sạch (DCM) DCM - Cơ chế phát triển sạch là một trong ba cơ chế được quy định trong điều 12 của nghị định thư Kyoto. Đối với các nước đang phát triển trong đó có cả Việt Nam cơ chế này đóng vai trò vô cùng quan trọng, nó cho phép chính phủ hoặc tổ chức cá nhân ở các nước đang phát triển thực hiện dự án n 6 giảm thải khí nhà kính để nhận được “chứng chỉ giảm phát thải”, viết tắt là CERs. Nhằm hấp thụ CO2 từ khí quyển và làm giảm lượng phát thải KNK.
Có 2 phương thức CDM, đó là CDM thông thường (DCM năng lượng) và DCM dùng cho hấp thụ KNK bằng các bể hấp thụ (AR-CDM hay Trồng rừng/ Tái trồng rừng theo CDM). Thị trường Carbon Tại hội nghị thượng đỉnh về môi trương và phát triển tổ chức tại Rio de Janeiro - Brazil năm 1992, Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu đã được 155 quốc gia ký kết. Nhằm giảm thiểu những tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu đã và đang ảnh hưởng ngày càng nghiêm trọng đến hệ thống khí hậu toàn cầu do sự phát triển của kinh tế - xã hội và những hoạt động của con người vào tự nhiên ngày càng gia tăng (UNFCCC). Đứng trước những hiểm họa và thách thức lớn đối với toàn nhân loại, UNFCCC lần thứ 3 được tổ chức với các bên tham gia tại Kyoto, Nhật Bản vào tháng 12 năm 1997, tại đây nghị định thư Kyoto đã được thông qua đồng thời nghị định thư đã thiết lập được một khung pháp lý riêng mang tính toàn cầu có thể gọi đó là “bước cam kết đầu tiên” nhằm giảm thiểu và quản lý nồng độ khí nhà kính, với việc đưa ra thời gian thực hiện cho các nước phát triển và mục tiêu giảm 6 loại khí nhà kính CO2 (Dioxit carbon), CH4 (Metan) N2O (Oxit nitơ), HFCS (Hydrofluo carbon), PFCS (Perfluoro carbon), SF6 (Sunfua hexafluorit).
Mục tiêu cuối cùng của UNFCCC là ổn định nồng độ KNK trong khí quyển ở mức có thể ngăn ngừa được sự can thiệp nguy hiểm của con người đối với hệ thống khí hậu. Nghị định thư Kyoto đã đưa ra 3 cơ chế mềm dẻo cho các nước phát triển thực hiện cam kết nhằm giúp các bên tham gia bị ràng buộc bởi các cam kết có tính pháp lý nhằm cắt giảm mức phát thải KNK ra khỏi phạm vi địa lý của quốc gia mình với chi phí chấp nhận được. n 7 3 cơ chế đó là: Cơ chế đồng thực hiện (JI); Cơ chế buôn bán quyền phát thải (IET); Cơ chế phát triển sạch (CDM). Như vậy CDM và nghị định thư Kyoto đã mang lại nhiều tiềm năng lớn cho các nước đang phát triển.
Việc tham gia vào quá trình CDM sẽ mở ra các cơ hội tốt cho việc giảm nhẹ vấn đề môi trường cũng như phát triển kinh tế, tiếp nhận đầu tư từ các nước phát triển để thực hiện các dự án lớn về trồng rừng, phục hồi rừng, quản lý bảo vệ rừng tự nhiên, hạn chế tình trạng chuyển đổi mục đích sử dụng đất lâm nghiệp sang mục đích sử dụng khác, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp theo hướng nông lâm kết hợp, thực hiện chuyển giao công nghệ góp phần tạo công ăn việc làm, cải thiện thu nhập và phát triển kinh tế nông thôn. Tại hội nghị đa dạng sinh học (CBD 2000) nhiều nguyên tắc tiếp cận hệ sinh thái đã được tán thành, qua đó đã xác định CDM là nhân tố làm cho sự quan tâm của xã hội đến hệ sinh thái đã tăng lên. Việc tiếp cận này đã nhận ra rằng công đồng địa phương là một phần không thể thiếu được trong hệ sinh thái rừng và cần phải tôn trọng quyền và những mối quan hệ của họ. Nó giúp cho người dân địa phương có nhiều cơ hội và thuận lợi hơn trong thị trường mới về nhu cầu gỗ và lâm sản ngoài gỗ ở các quốc gia đang phát triển được chứng nhận dịch vụ gỗ không có Carbon (Scheer, 2002).
Tháng 8 năm 2001 thị trường mua bán về chỉ tiêu phát thải khí nhà kính đã được khai trương tại London. Tại thị trường này sẽ có 6 loại khí nhà kính sẽ được giao dịch trong đó quan trọng nhất là khí Carbon dioxit (CO2). Đơn vị các loại hàng hóa khí thải nhà kính trên thị trường được tính theo tấn CO2 và lượng quy đổi các loại khí khác. Hiện tại trong các dịch vụ môi trường mà cộng đồng vùng cao có thể được chi trả từ giá trị thương mại Carbon đó là khả năng hấp thụ Carbon của rừng, bảo vệ vùng đầu nguồn và bảo tồn đa dạng sinh học, thì trong đó chi trả cho thị trường Carbon là cao hơn cả và có n 8 thể nói “rừng Carbon” là một đóng góp quan trọng trong công tác xóa đói giảm nghèo.
Tuy nhiên việc chi trả dịch vụ môi trường rừng vẫn đang được tranh luận, nhiều nhóm nghiên cứu môi trường cho rằng đó chính là kẽ hở cho phép các nước công nghiệp tiếp tục gây ô nhiễm thay vì tiến hành các giải pháp tốn kém để quản lý mức độ ô nhiễm của họ (RUPES). Từ thực tế đó khái niệm “rừng Carbon (Carbon Forestry)” đã được hình thành, đó là các khu rừng được xác định với mục tiêu lưu chữ và điều hòa khí Carbon phát thải từ công nghiệp. Rừng Carbon là khái niệm thường gắn với các chương trình dự án nhằm cải thiện đời sống cho người dân sống trong và gần rừng, những người trực tiếp bảo vệ rừng. Họ những người trực tiếp bảo vệ và chịu ảnh hưởng của sự biến đổi khí hậu toàn cầu, do đó cần có những chính sách chi trả và đền bù thích hợp làm được như vậy thì tinh thần và trách nhiệm của người dân sống trong và gần rừng sẽ tăng lên góp phần bảo vệ môi trường khí hậu trong tương lai.
Nói tóm lại, để các chương trình dự án nhằm tích lũy Carbon dựa vào cộng đồng đạt được kết quả cao thì cần có một cơ chế cụ thể gắn với sinh kế của người dân sống trong và gần rừng. Những nghiên cứu trên thế giới Đến năm 2004 đã có 16 dự án về hấp thụ carbon qua việc trồng mới và tái trồng rừng được thực hiện, trong đó châu Mỹ - Latin có 4 dự án, châu Phi có 7 dự án, châu Á có 5 dự án và 1 dự án liên quốc gia được thực hiện tại các nước Ấn Độ, Brazil, Jordan và Kenya (FAO, 2004) [29]. Tại Mexico một dự án đang được thực hiện, mục tiêu của dự án là cung cấp 18.000 tấn CO2/năm với giá 2,7 USD/tấn CO2, dự án đã lôi cuốn trên 400 thành viên thuộc trên 33 cộng đồng của 4 nhóm dân tộc thiểu số tham gia với nhiều hệ thống nông-lâm kết hợp khác nhau. Kết quả của dự án đã làm tăng lượng carbon tích luỹ, tăng cường năng lực cộng đồng, khuyến khích phát triển các hệ thống sản xuất nông nghiệp bền vững và góp phần bảo tồn đa dạng sinh học (Phạm Xuân n 9 Hoàn, 2005)[16].
Tại Ấn Độ, một dự án nâng cao hấp thụ carbon đang được thực hiện trong thời gian 50 năm, theo tính toán, khi kết thúc dự án có thể cố định được từ 0,4-0,6 Mt C, trong đó sau 8 năm, mỗi ha có thể cố định được 25,44 tấn, sau 12 năm có thể cố định được 41,2 tấn và sau 50 năm có thể cố định được 58,8 tấn (tương đương khoảng 3 tấn C/ha). Theo Saytyanarayana M (2007) [32] tại Costa Rica chương trình lâm nghiệp tư nhân đã khuyến khích các chủ đất lựa chọn phương thức sử dụng đất gắn liền với lâm nghiệp thông qua việc cung cấp cho các dịch vụ cố định carbon. Với chương trình này, đợt đầu tiên các chủ đất đã bán được 200.000 tấn carbon với giá 2 triệu USD cho Na Uy. Một dự án khác nhằm giảm những thiệt hại do nóng lên toàn cầu và giảm tỷ lệ đói nghèo của người dân trong vùng được thực hiện tại Tây Phi thông qua việc tăng cường khả năng hấp thụ carbon của trảng cỏ Savannah (FAO, 2004) [29].
Nhìn chung, mục tiêu của các dự án về khả năng hấp thụ carbon biến động rất lớn, từ 7 tấn/ha trong dự án tại vườn quốc gia Noel Kempf Mercado ở Bolivia đến 129 tấn/ha trong dự án thực hiện tại vùng Andean ở Ecuador (FAO, 2004) [29]. Trong các hệ sinh thái rừng nhiệt đới các bể chứa carbon chính là các sinh khối sống của cây cối và thực vật dưới tán và khối lượng vật liệu chết của vật rơi rụng, mảnh vụn gỗ và các chất hữu cơ trong đất. Carbon được lưu trữ trong sinh khối sống trên mặt đất của cây thường là các bể chứa lớn nhất và ảnh hưởng trực tiếp nhất bởi nạn phá rừng và suy thoái. Như vậy, ước tính carbon trong sinh khối trên mặt đất của rừng là bước quan trọng nhất trong việc xác định số lượng, dòng carbon từ rừng nhiệt đới.
Phương thức đo lường đối với các bể chứa carbon khác nhau đã được mô tả ở các tài liệu của Post và cộng sự (1999), Brown và Masera (2003), Pearson và cs (2005), IPCC (2006).