CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẤU TRÚC VỐN CỦA DOANH NGHIỆP 1. CẤU TRÚC VỐN CỦA DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm cấu trúc vốn Cấu trúc vốn được định nghĩa là sự kết hợp giữa nợ và vốn cổ phần trong tổng nguồn vốn dài hạn được dùng để tài trợ cho quyết định đầu tư của một doanh nghiệp. Các chỉ tiêu đo lường cấu trúc vốn của doanh nghiệp Cấu trúc vốn thể hiện chính sách tài trợ trong dài hạn của doanh nghiệp nên khi phân tích cấu trúc vốn cần xem xét khả năng sử dụng nguồn vốn tự có của doanh nghiệp hay phải sử dụng nguồn vốn từ bên ngoài doanh nghiệp.
Việc lựa chọn chỉ tiêu cấu trúc vốn tùy thuộc vào ý nghĩa mà chỉ tiêu đó mang lại cho người sử dụng và phù hợp với mục tiêu cần xem xét. Một số chỉ tiêu sử dụng phổ biến: Nợ dài hạn Tỷ suất nợ dài hạn = x 100% Tổng tài sản Tỷ suất nợ dài hạn phản ánh mức độ tài trợ tài sản của doanh nghiệp bởi các khoản nợ dài hạn Tỷ suất nợ dài hạn Nợ dài hạn = x 100% trên vốn chủ sở hữu Vốn chủ sở hữu Luan van 5 Tỷ suất nợ dài hạn trên vốn chủ sở hữu thể hiện mức độ đảm bảo nợ dài hạn bởi vốn chủ sở hữu 1. Tác động của cấu trúc vốn a. Tác động của nợ Trong nền kinh tế hiện nay, không một doanh nghiệp nào hoạt động sản xuất kinh doanh chỉ bằng nguồn vốn tự có mà phải huy động từ nhiều nguồn tài trợ khác nhau, trong đó nguồn vốn vay chiếm một tỷ trọng đáng kể.
Một trong những ưu điểm lớn nhất của việc dùng nợ thay cho vốn chủ sở hữu đó là lãi suất mà doanh nghiệp phải trả trên nợ được miễn thuế. Trong khi đó thì cổ tức hay các hình thức thưởng khác cho chủ sở hữu đều bị đánh thuế. Nếu chúng ta thay vốn chủ sở hữu bằng nợ thì sẽ giảm được thuế thu nhập doanh nghiệp phải trả và từ đó giá trị của doanh nghiệp tăng lên. Một điều cần lưu ý, với những nước mà nhà đầu tư phải trả thuế thu nhập cá nhân với mức cao thì ưu điểm này của nợ sẽ bị giảm hay trở thành yếu điểm.
Ưu điểm thứ hai của nợ, đó là thông thường nợ rẻ hơn vốn chủ sở hữu. Nói đơn giản là lãi suất ngân hàng, hay lãi suất trái phiếu thấp hơn nhiều so với lãi suất kỳ vọng của nhà đầu tư. Do đó, khi tăng nợ tức là giảm chi phí chi ra trên một đồng tiền mặt và vì thế tăng cao lợi nhuận, cũng như giá trị của doanh nghiệp. Vì tính chất này mà tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu còn được gọi là tỷ số đòn bẩy.
Tuy vậy doanh nghiệp không thể tăng nợ lên mức quá cao so với vốn chủ sở hữu. Khi đó, doanh nghiệp sẽ rơi vào tình trạng tài chính không lành mạnh và dẫn đến những rủi ro không đáng có khác. Tỷ lệ nợ cao sẽ dẫn đến nguy cơ phá sản. Một công trình nghiên cứu tại Mỹ cho thấy chi phí phá sản chiếm khoảng 3% thị giá của tất cả các doanh Luan van 6 nghiệp niêm yết.
Nghiên cứu còn cho thấy chi phí “hao mòn” doanh nghiệp còn cao và nghiêm trọng hơn nhiều. Những doanh nghiệp có tỷ lệ nợ cao, sẽ e ngại trong việc nắm bắt những cơ hội đầu tư. Chúng cũng có khuynh hướng giảm bớt những chi phí tạo ra hiệu quả trong tương lai như chi phí nghiên cứu và phát triển, huấn luyện, xây dựng thương hiệu. Kết quả là những doanh nghiệp này đã bỏ qua những cơ hội để tăng giá trị của doanh nghiệp.
Mức nợ cao còn dẫn đến những nguy cơ mất khách hàng, nhân viên và nhà cung cấp. Nguy cơ càng cao hơn khi sản phẩm của doanh nghiệp có vòng đời phục vụ và bảo hành lâu dài. Ngoài ra doanh nghiệp có mức nợ cao còn tạo ra sự mâu thuẫn giữa các chủ nợ và nhà đầu tư khi doanh nghiệp sắp phải ngừng họat động để trả nợ. Khi có nguy cơ đó xảy ra, các nhà đầu tư “khôn ngoan” sẽ tìm cách đầu tư dưới mức.
Tức là họ sẽ tập trung đầu tư vào những dự án rủi ro cao, tạo ra giá trị thấp trong tương lai, nhưng có thể đem lại tiền mặt để có thể chia dưới dạng cổ tức ngay lúc này. Trong khi đó những chủ nợ lại muốn doanh nghiệp đầu tư vào những dự án ít rủi ro và tạo được giá trị cao trong tương lai. Và mâu thuẫn vì thế phát sinh. Tác động của vốn chủ sở hữu Một trong những điểm không thuận lợi của vốn chủ sở hữu đó là giá thành (hay chi phí) của nó cao hơn chi phí của nợ.
Không người đầu tư nào bỏ tiền đầu tư vào doanh nghiệp gánh chịu những rủi ro về họat động và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp mà lại chịu nhận tiền lãi bằng lãi suất cho vay nợ. Việc này cùng với tính chất không được miễn trừ thuế làm cho chi phí vốn càng cao hơn. Từ điểm bất lợi trên dẫn tới một điểm không thuận lợi khác, là khi vốn chủ sở hữu càng cao, số lượng người chủ sở hữu càng nhiều, thì áp lực về kỳ Luan van 7 vọng của nhà đầu tư cũng như sự quản lý, giám sát của họ lên các nhà điều hành doanh nghiệp càng lớn. Tuy vậy, vốn chủ sở hữu sẽ vẫn phải tăng khi doanh nghiệp cần tiền, tăng để cân bằng với nợ và giữ cho doanh nghiệp ở trong tình trạng tài chính lành mạnh.
Một lý do để các nhà đầu tư tăng vốn nữa là khi thị trường định giá cổ phiếu của nó cao hơn giá trị nội tại (overprice). Phát hành vốn trong trường hợp đó sẽ tạo ra lợi nhuận tài chính cho doanh nghiệp, và thực chất là tăng phần lợi nhuận cho những nhà đầu tư hiện hữu. Mối quan hệ giữa rủi ro tài chính và đòn bẩy tài chính a. Đòn bẩy tài chính Đòn bẩy tài chính dùng các chi phí tài chính cố định làm điểm tựa.
Khi một doanh nghiệp sử dụng các chi phí tài chính cố định, một thay đổi trong EBIT sẽ được phóng đại thành một thay đổi tương đối lớn hơn trong thu nhập mỗi cổ phần (EPS). Tác động số nhân này của việc sử dụng các chi phí tài chính cố định được gọi là độ nghiêng đòn bẩy đòn bẩy tài chính. Độ nghiêng đòn bẩy tài chính của một doanh nghiệp được tính như phần trăm thay đổi trong thu nhập mỗi cổ phần do phần trăm thay đổi cho sẳn trong EBIT. % thay đổi trong EPS DFL = x 100% % thay đổi trong EBIT b.
Rủi ro tài chính Rủi ro tài chính là rủi ro do việc sử dụng nợ mang lại, nó gắn liền với cơ cấu tài chính của doanh nghiệp. Rủi ro tài chính chỉ tính khả biến tăng thêm của thu nhập mỗi cổ phần và xác suất mất khả năng chi trả xảy ra khi một doanh nghiệp sử dụng các nguồn tài trợ có chi phí tài chính cố định, như Luan van 8 nợ và cổ phần ưu đãi trong cấu trúc vốn của mình. Nghĩa rộng của rủi ro tài chính bao gồm cả rủi ro không trả được nợ và sự dao động của thu nhập dành cho cổ đông. Khi một doanh nghiệp tăng tỷ lệ nợ, thuế và cổ phần ưu đãi trong cấu trúc tài chính của nó, sẽ làm tăng chi phí cố định về tài chính và vì thế có thể làm tăng nguy cơ không trả được nợ bằng ngân quỹ mà nó sản sinh.
Mối quan hệ giữa rủi ro tài chính và đòn bẩy tài chính Các chi phí sử dụng vốn như lãi vay và cổ tức ưu đãi tượng trưng cho các nghĩa vụ theo hợp đồng một doanh nghiệp phải đáp ứng bất kể mức độ EBIT. Việc gia tăng sử dụng các số lượng nợ và cổ phần ưu đãi làm tăng các chi phí tài chính cố định của doanh nghiệp. Các chi phí này lại làm tăng mức EBIT mà doanh nghiệp phải đạt được để đáp ứng các nghĩa vụ tài chính và duy trì hoạt động. Lý do một doanh nghiệp chấp nhận rủi ro của tài trợ có chi phí tài chính cố định là để tăng lợi nhuận có thể có cho các cổ đông.1 Mình họa về đòn bẩy tài chính Luan van 9 Từ hình ta có thể thấy rõ là việc sử dụng đòn bẩy tài chính đã phóng đại thu nhập cả dương và âm - cho cổ đông.
Khi EBIT ở mức tương đối cao, như EBIT2, việc sử dụng đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp có sử dụng nợ làm EPS tăng cao hơn mức EPS của doanh nghiệp tài trợ hoàn toàn bằng vốn cổ phần không sử dụng đòn bẩy tài chính. Ngược lại, khi EBIT tương đối thấp – như EBIT0 – việc sử dụng đòn bẩy tài chính làm EPS giảm xuống dưới mức EPS có thể đạt được khi không sử dụng đòn bẩy tài chính, tức là EPS’0 < EPS0. Tại EBIT0, việc sử dụng đòn bẩy tài chính đưa đến EPS âm cho doanh nghiệp có sử dụng nợ. Ý nghĩa của việc nghiên cứu cấu trúc vốn Cấu trúc vốn là vấn đề đã được các nhà nghiên cứu Kinh tế - Tài chính quan tâm và dành nhiều thời gian nghiên cứu.
Đứng trên góc độ nhà quản lý tài chính tại doanh nghiệp, việc nghiên cứu cấu trúc vốn giúp họ tìm ra lời giải cho những câu hỏi: - Xác định cấu trúc vốn như thế nào là hợp lý và có lợi cho doanh nghiệp? - Nên vay nợ hay là không? - Nếu vay nợ, doanh nghiệp gánh chịu rủi ro ở mức độ nào? Việc hiểu tường tận về cấu trúc vốn các nhà quản trị sẽ tìm ra câu trả lời cho những câu hỏi ở trên, từ đó đề ra các quyết định tài trợ đúng đắn nhằm tăng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Gia tăng lợi nhuận cho cổ đông nhưng vẫn hạn chế rủi ro ở mức thấp nhất. Trên thực tế, nếu nợ phải trả chiếm quá nhiều so với nguồn vốn chủ sở hữu có nghĩa là doanh nghiệp đi vay mượn nhiều hơn số vốn hiện có, nên doanh nghiệp có thể gặp rủi ro trong việc trả nợ, đặc biệt là doanh nghiệp Luan van 10 càng gặp nhiều khó khăn hơn khi lãi suất ngân hàng ngày một tăng cao. Các chủ nợ hay ngân hàng cũng thường xem xét, đánh giá kỹ tỷ lệ nợ (và một số chỉ số tài chính khác) để quyết định có cho doanh nghiệp vay hay không.
CÁC LÝ THUYẾT VỀ CẤU TRÚC VỐN CỦA DOANH NGHIỆP 1.