MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong những năm qua, ngành công nghiệp thực phẩm – đồ uống đã đóng vai trò quan trọng trong phát triển công nghiệp Việt Nam. Ngành thực phẩm và đồ uống có vị trí đặc biệt quan trọng ở Việt Nam và có nhiều cơ hội để phát triển bởi đây là một ngành nằm trong chuỗi cung ứng - đầu ra của nông nghiệp, lĩnh vực có rất nhiều lợi thế cạnh tranh và đang đƣợc quan tâm phát triển. Tỷ lệ các công ty tham gia vào ngành thực phẩm, đồ uống hiện đang chiếm vị trí hàng đầu trong các ngành sản xuất, chế biến ở Việt Nam.
Nguyên nhân bởi Việt Nam là nƣớc nông nghiệp nhiệt đới có nguồn nguyên liệu phong ph , đa dạng là đầu vào quan trọng cho ngành công nghiệp chế biến Đất nƣớc đang phát triển, thu nhập của ngƣời dân không ng ng tăng và lối sống thay đổi đặc biệt là tại các trung tâm thành phố, mang lại nhu cầu về tiêu thụ nhiều đồ ăn nhẹ, thực phẩm tiện dùng và đắt tiền. Thị trƣờng trong nƣớc lớn với chi phí lao động thấp và quá trình tƣ nhân hóa các công ty thực phẩm khiến thị trƣờng này có sức sống mãnh liệt Bên cạnh đó, áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt trong ngành này là động lực cho một thị trƣờng năng động và kích thích phát triển Với Việt Nam, ngành chế biến thực phẩm, đồ uống là ngành có nhiều tiềm năng Để các công ty sản xuất thực phẩm, đồ uống Việt Nam hoạt động hiệu quả nhằm góp phần ổn định và phát triển kinh tế, bên cạnh các chính sách hỗ trợ t các cơ quan quản lý Nhà nƣớc thì bản thân công ty phải có những chiến lƣợc và chính sách đ ng đắn. Một trong những vấn đề cần đƣợc quan tâm nhất là nâng cao tính thanh khoản của công ty. Muốn vậy, nhà quản lý cần phải biết đƣợc những nhân tố nào ảnh hƣởng đến tính thanh khoản để t đó đề ra các chính sách hợp lý giúp cho hoạt động kinh doanh của công ty an toàn và hiệu quả.
Luan van 2 Tuy nhiên, hiện nay công tác nghiên cứu về tính thanh khoản và những nhân tố ảnh hƣởng đến tính thanh khoản của các công ty Việt Nam còn một số hạn chế do các nhà quản lý công ty chƣa tìm hiểu sâu về các nhân tố ảnh hƣởng đến tính thanh khoản. T những lý do trên, sau một thời gian tìm hiểu về ngành sản xuất thực phẩm, đồ uống, tôi cho rằng việc nghiên cứu những nhân tố ảnh hƣởng đến tính thanh khoản của các công ty thuộc nhóm ngành này là một vấn đề có ý nghĩa khoa học và thực tiễn Do đó, tôi đã chọn đề tài: “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hƣởng đến tính thanh khoản của các công ty niêm yết thuộc nhóm ngành sản xuất thực phẩm, đồ uống Việt Nam”. Mục tiêu nghiên cứu Luận văn nghiên cứu hƣớng đến hai mục tiêu chính: - Làm rõ các nhân tố ảnh hƣởng và mức độ ảnh hƣởng của các nhân tố đến tính thanh khoản của các công ty niêm yết thuộc nhóm ngành sản xuất thực phẩm, đồ uống Việt Nam. - Dựa trên kết quả nghiên cứu đƣa ra một số hàm ý chính sách và kiến nghị.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu - Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là những nhân tố ảnh hƣởng đến tính thanh khoản của các công ty sản xuất thực phẩm, đồ uống niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam. - Phạm vi nghiên cứu về mặt không gian: các công ty sản xuất thực phẩm, đồ uống niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam. - Phạm vi nghiên cứu về mặt thời gian: gian đoạn 2013-2015. Phƣơng pháp nghiên cứu Phƣơng pháp thu thập thông tin: Trên cơ sở Báo cáo tài chính theo năm của các công ty thuộc ngành sản xuất thực phẩm, đồ uống niêm yết trên thị Luan van 3 trƣờng chứng khoán Việt Nam, tác giả thu thập số liệu của các chỉ tiêu nghiên cứu trong ba năm 2013, 2014 và 2015 Phƣơng pháp xử lý và phân tích thông tin: phƣơng pháp phân tích tổng hợp, phƣơng pháp so sánh đối chiếu đƣợc sử dụng trong suốt quá trình xử lý số liệu.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài Đề tài đã trình bày những nhân tố và mức độ ảnh hƣởng của t ng nhân tố đó đến khả năng thanh khoản của các công ty ngành sản xuất thực phẩm, đồ uống. T đó cho thấy đặc thù về khả năng thanh khoản cũng nhƣ những nhân tố ảnh hƣởng đến khả năng thanh khoản của ngành sản xuất và chế biến thực phẩm, đồ uống tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở để các công ty ngành sản xuất thực phẩm, đồ uống niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán nói riêng và các công ty ngành thực phẩm, đồ uống nói chung đề ra phƣơng hƣớng, chiến lƣợc, giải pháp để nâng cao khả năng thanh khoản thông qua kế hoạch cải thiện các nhân tố ảnh hƣởng đến khả năng thanh khoản của công ty. Bố cục đề tài Luận văn gồm 3 chƣơng: CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÍNH THANH KHOẢN VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÍNH THANH KHOẢN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP CHƢƠNG 2: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÍNH THANH KHOẢN CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT THUỘC NHÓM NGÀNH SẢN XUẤT THỰC PHẨM, ĐỒ UỐNG VIỆT NAM CHƢƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ HÀM Ý TỪ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Luan van 4 7.
Tổng quan tài liệu nghiên cứu Trên Thế giới đã có nhiều nghiên cứu về tính thanh khoản và các nhân tố ảnh hƣởng đến tính thanh khoản của các công ty, các tác giả đã dùng nhiều phƣơng pháp khác nhau, nghiên cứu thực nghiệm ở những công ty thuộc nhiều lĩnh vực ngành nghề khác nhau trong những điều kiện kinh tế xã hội khác nhau. Cụ thể nhƣ một số nghiên cứu sau đây: Trƣớc tiên phải kể đến một trong những lý thuyết nổi bật nhất của tính thanh khoản là “lý thuyết ƣu chuộng tính thanh khoản” trong nghiên cứu mang tên “The General Theory of Employment, Interest and Money” (Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ) của Keynes (1936) Ông đƣa ra ba động cơ lý giải cho mục đích nắm giữ tiền mặt của con ngƣời, đó là: giao dịch, dự phòng và đầu cơ Học thuyết của Keynes đã trở thành nền tảng lý thuyết cho các nghiên cứu sau này của nhiều tác giả khác phát triển theo đó [17] Bruinshoofd và Kool (2004) đã tiến hành thực nghiệm về khả năng thanh khoản ngắn hạn của các công ty Hà Lan. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu 453 DN giai đoạn 1986–1997. Các tác giả xem xét yếu tố quy mô, vốn lƣu động, tài sản, doanh thu, tổng nợ, nợ ngắn hạn, đầu tƣ, lợi nhuận trên tài sản, thu nhập không chắc chắn, lãi suất bình quân là biến độc lập.
Kết quả cho thấy vốn lƣu động, đầu tƣ và lợi nhuận trên tài sản lại có tác động tiêu cực đến khả năng thanh khoản của công ty. [12] Opler và cộng sự (1999) đã thực nghiệm các yếu tố tác động đến thanh khoản của 1048 công ty Mỹ t 1971 đến 1994. Kết quả cho thấy thanh khoản có mối tƣơng quan ngƣợc chiều đến quy mô, vốn lƣu động, đòn bẩy, chi trả cổ tức. Ở chiều ngƣợc lại, tỷ lệ dòng tiền/tài sản, tỷ lệ chi tiêu vốn/tổng tài sản, rủi ro ngành, và tỷ lệ chi phí nghiên cứu phát triển/doanh thu có tƣơng quan cùng chiều với thanh khoản.
Các tác giả kết luận rằng các công ty lớn có Luan van 5 sự tiếp cận thị trƣờng vốn tốt hơn sẽ nắm giữ ít tiền mặt hơn, khiến chỉ số thanh khoản kém hơn [21] Afza và Adnan (2007) nghiên cứu về những yếu tố của việc nắm giữ tiền mặt trong các công ty ở Pakistan. Afza và Adnan thu thập mẫu gồm 205 công ty đại chúng niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Karachi (KSE) trong giai đoạn 1998-2005. Nghiên cứu của họ cho thấy rằng các công ty có biến động dòng tiền lớn hơn có xu hƣớng nắm giữ tiền mặt nhiều hơn để tạo một điểm tựa an toàn cho các hoạt động của công ty đƣợc trôi chảy. [10] Kim, Mauer và Sherman (1998) nghiên cứu những yếu tố quyết định tính thanh khoản của công ty.
Họ thu thập mẫu gồm 915 công ty công nghiệp ở Mỹ trong giai đoạn 1975-1994. Kim, Mauer và Sherman dự đoán rằng có mối quan hệ tích cực giữa chi phí tài chính bên ngoài và đầu tƣ vào tài sản lƣu động. Họ cũng dự đoán rằng các công ty có biến động dòng tiền lớn có xu hƣớng đầu tƣ vào tài sản lƣu động nhiều hơn Ngoài ra, nghiên cứu này cũng chỉ ra tính thanh khoản của công ty có mối quan hệ tích cực với tỷ suất sinh lời của tài sản. [18] Với mẫu nghiên cứu trong 3 năm 2008–2010, Gill và Mathur (2011) đã chọn 164 công ty trên thị trƣờng chứng khoán Toronto, Canada nhằm tìm ra các yếu tố tác động đến thanh khoản của công ty.
Quy mô, vốn lƣu động ròng, tỷ lệ nợ, nợ ngắn hạn, tỷ lệ đầu tƣ và yếu tố ngành có tác động đến thanh khoản của công ty. Các biến có tác động ngƣợc chiều đến thanh khoản là tỷ lệ nợ, vốn lƣu động ròng và tỷ lệ đầu tƣ [15] Muhammad Usama (2012) phân tích quản lý vốn lƣu động và nghiên cứu ảnh hƣởng của vốn lƣu động đến lợi nhuận và thanh khoản của công ty. Usama lấy mẫu gồm 18 công ty thuộc ngành thực phẩm đƣợc niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Karachi trong thời gian t 2006-2010. Usama kiểm tra tác động của quy mô, kỳ thu tiền bình quân, kỳ trả nợ bình quân, vòng Luan van 6 quay hàng tồn kho, tỷ lệ nợ đến lợi nhuận và thanh khoản của các công ty.
Qua phân tích hồi quy, kết quả cho thấy có tác động tích cực của quy mô đến lợi nhuận và thanh khoản, trong khi kỳ thu tiền bình quân có tác động tiêu cực đến lợi nhuận của công ty. [19] Niaz Ahmed Bhutto và các cộng sự (2011) nghiên cứu mối quan hệ giữa chu kỳ chuyển đổi tiền mặt với quy mô công ty, vốn lƣu động và lợi nhuận của các công ty ngành công nghiệp ở Pakistan. Dữ liệu thu thập đƣợc t các báo cáo tài chính năm 2009 của 157 công ty đại ch ng đƣợc niêm yết trên sàn chứng khoán Karachi. Nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ tiêu cực giữa chiều dài chu kỳ chuyển đổi tiền mặt với lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), nhƣng có mối quan hệ tích cực với quy mô và lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA).