phần mở đầu và phần kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, nội dung luận văn của chúng tôi gồm có ba chương: Chƣơng 1. Ngƣời trần thuật và điểm nhìn trần thuật trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy. Nghệ thuật tổ chức kết cấu và cốt truyện trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy. Ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy.
LuËn v¨n th¹c sÜ v¨n häc 7 Ng« ThÞ Yªn NghÖ thuËt trÇn thuËt trong truyÖn ng¾n §ç BÝch Thóy NỘI DUNG CHƢƠNG 1. NGƢỜI TRẦN THUẬT VÀ ĐIỂM NHÌN TRẦN THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN ĐỖ BÍCH THÚY 1. Lí thuyết nghệ thuật trần thuật Nói đến phương diện trần thuật thì đây lại là một phần không thể thiếu trong phương thức tự sự. Bởi trong tác phẩm tự sự, nghệ thuật trần thuật có vai trò quan trọng góp phần khẳng định tài năng, phong cách nhà văn.
Có nhiều hình thức trần thuật, mỗi một thể loại cụ thể sẽ có cách trần thuật khác nhau. Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Trần thuật là phương diện cơ bản của phương thức tự sự, là việc giới thiệu, khái quát, thuyết minh, miêu tả đối với nhân vật, sự kiện, hoàn cảnh, sự vật theo cách nhìn của một người trần thuật” [21;307]. Giáo trình Lí luận văn học cũng đưa ra khái niệm về trần thuật như sau: “Trần thuật là biện pháp nghệ thuật cơ bản nhất để tạo thành văn bản văn học. Về bản chất, trần thuật là hành vi ngôn ngữ nhằm kể, thuật, miêu tả, cung cấp thông tin về sự kiện, nhân vật, theo một thứ tự nhất định trong không gian, thời gian và về ý nghĩa.
Trần thuật có nhiệm vụ cho người đọc biết ai, xuất hiện ở đâu, khi nào, làm việc gì, trong tình huống nào. Trần thuật không chỉ là lời thuật, lời kể. Nó bao hàm cả việc “miêu tả đối tượng, phân tích hoàn cảnh, thuật lại tiểu sử nhân vật, lời bình luận, lời trữ tình ngoại đề, lời ghi chú của tác giả” [21;307]. Trần thuật không chỉ có trong truyện mà còn có cả trong thơ trữ tình nhưng trần thuật thể hiện sự đa dạng và phong phú nhất phải là tác phẩm tự sự.
Như vậy, trần thuật luôn có hai yếu tố quy định, đó là người kể và chuỗi ngôn từ. Yếu tố người kể chuyện, ta sẽ có ngôi trần thuật, lời trần thuật, điểm nhìn trần thuật. Yếu tố chuỗi ngôn từ ta lại có nhiều yếu tố khác như: dựng cảnh, dự báo; phân tích bình luận, giọng điệu. Từ điển thuật ngữ văn học khẳng định: “Trần thuật là phương diện cấu trúc của tác phẩm tự sự thể hiện mối quan hệ chủ thể - khách thể trong loại LuËn v¨n th¹c sÜ v¨n häc 8 Ng« ThÞ Yªn NghÖ thuËt trÇn thuËt trong truyÖn ng¾n §ç BÝch Thóy hình nghệ thuật này.
Nó đánh dấu sự đổi thay điểm chú ý của ý thức văn học từ hệ thống sự kiện “thắt nút”, “mở nút”, sang chủ thể thẩm mĩ của tác phẩm tự sự” [21;308]. Từ khái niệm trần thuật là một phương thức nghệ thuật đặc trưng của tác phẩm tự sự, truyện ngắn của Đỗ Bích Thúy đã sử dụng nghệ thuật trần thuật vào việc khai thác những mảnh đời tư của con người trong quá trình hình thành và phát triển. Để đạt được điều đó, bút pháp trần thuật của tác giả phải được định hình trong một không gian và thời gian nhất định. Có như vậy, thể loại truyện ngắn mới phát huy hết mặt mạnh của nó.
Ngƣời trần thuật và điểm nhìn trần thuật trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy 1. Ngƣời trần thuật trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy 1. Khái quát về ngƣời trần thuật Trong nghệ thuật trần thuật, người ta thường nhắc đến các khái niệm: người trần thuật, điểm nhìn trần thuật, giọng điệu trần thuật, ngôn ngữ trần thuật. Người trần thuật (còn gọi là người kể chuyện, người thuật chuyện).
Đây là khái niệm trung tâm của trần thuật học, của thi pháp học hiện đại. Khái niệm này dùng để chỉ người thay thế cho chủ thể sáng tạo tường thuật lại câu chuyện trong tác phẩm. Song cho đến nay, khái niệm này còn gây nhiều tranh cãi. Các nhà nghiên cứu Pháp như G.
Genette thì hiểu người trần thuật có chức năng của tác giả mà ông giải thích là vai trò trội của người kể chuyện. Đó là, người trần thuật vừa có chức năng kể chuyện đồng thời phải vừa chỉ huy cách kể, vừa truyền đạt thông tin, vừa thuyết phục người đọc. Còn các nhà nghiên cứu Anh, Mĩ thì lại thiên về hiểu người trần thuật như là một vai trò thụ động do tác giả điều khiển. Tác giả cần nó vì cần một giọng điệu, cần một điểm nhìn, cách nhìn.
LuËn v¨n th¹c sÜ v¨n häc 9 Ng« ThÞ Yªn NghÖ thuËt trÇn thuËt trong truyÖn ng¾n §ç BÝch Thóy Từ điển thuật ngữ văn học có nêu: “Người trần thuật là hình thái của hình tượng tác giả trong văn học nghệ thuật, là người mang tiếng nói, quan điểm tác giả trong tác phẩm văn xuôi” [21;191] Giáo trình lí luận văn học đưa ra ý kiến: “Người kể chuyện (người trần thuật) là yếu tố thuộc thế giới miêu tả. Đó là một người do nhà văn tạo ra để thay thế mình thực hiện hành vi trần thuật. Người kể chuyện trong văn bản ẩn mình trong dòng chữ. Người kể chuyện ấy có thể được kể bằng ngôi thứ ba, ngôi thứ nhất và ngôi thứ hai.
Và chỉ có thể kể được khi nào họ cảm thấy như người trong cuộc, người chứng kiến hay người biết trước sự việc xảy ra bằng tất cả giác quan, sự hiểu biết của mình. Do đó về căn bản, mọi người kể chuyện đều kể theo ngôi thứ nhất. Cái gọi là kể theo ngôi thứ ba thực chất là hình thức kể khi người kể chưa được ý thức hoặc là đã được ý thức nhưng cố ý giấu mình” [53;102]. Còn ngôi kể thứ hai là “cái tôi trữ tình”, là “chủ thể kép” thường dùng khi “hỗ trợ” để nhân vật của mình được bộc lộ “chân dung nội tâm” nhưng ngôi kể thứ hai này thường ít được sử dụng.
Theo Thi pháp học hiện đại thì “người trần thuật cũng đồng thời là người kể chuyện và người kể chuyện là yếu tố tích cực trong việc kiến tạo thế giới tưởng tượng. Không thể có trần thuật thiếu người kể chuyện” [52;116]. Dù các nhà nghiên cứu có những cách hiểu khác nhau về người trần thuật thế nào đi chăng nữa thì vai trò của người trần thuật là rất quan trọng. Bởi trần thuật bao giờ cũng được tiến hành từ phía một người nào đó.
Ở phương diện nào, dù trực tiếp hay gián tiếp cũng đều có sự đồng hành của người trần thuật. Người trần thuật không những tổ chức về mặt ngôn ngữ mà còn đóng vai trò quan trọng về mặt kết cấu và chi phối đến ngôn ngữ của nhân vật. Có khi tác giả chính là người trần thuật, cũng có khi tác giả là người trần thuật được giao cho hóa thân vào một nhân vật nào đó. Người trần thuật miêu tả, bình luận, khêu gợi và làm sáng tỏ mọi mối quan hệ của nhân vật từ hoàn cảnh, sự kiện cho đến các nhân vật khác trong tác phẩm.
Đó là những nhân tố tích cực trong việc tổ chức, dẫn dắt, định hướng và khơi gợi khả năng đối thoại tranh luận LuËn v¨n th¹c sÜ v¨n häc 10 Ng« ThÞ Yªn NghÖ thuËt trÇn thuËt trong truyÖn ng¾n §ç BÝch Thóy của người đọc, là điểm tựa để tác giả có thể bộc lộ quan điểm cá nhân về cuộc sống cũng như mặt nghệ thuật của mình. Người trần thuật còn được nhận diện trong tác phẩm của mình là nhờ vào sự định hình của ngôi kể. Vì vậy, việc nghiên cứu khám phá ra hình tượng người trần thuật cũng chính là phương diện khám phá ra nội dung và nghệ thuật của tác phẩm. Từ những khái niệm, những đặc tính trọng yếu đó về người trần thuật nên mỗi nhà văn khi bắt tay vào sáng tác tác phẩm tự sự luôn có ý thức lựa chọn cho mình một người kể chuyện thích hợp.2 Ngƣời trần thuật trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy Khi khảo sát năm tập truyện ngắn của Đỗ Bích Thúy, chúng tôi nhận thấy những câu chuyện kể của chị thường có sự đan xen, nhập nhòa giữa chủ thể sáng tạo là tác giả với người trần thuật.
Đó là cội nguồn của sự nhận thức, phán đoán, kiến giải chủ quan mà nhà văn hiện hình nó trên văn bản của mình. Người trần thuật trong truyện ngắn của chị luôn truyền tải được đầy đủ và sắc nét những yêu thương, tâm tình, những khát khao cháy bỏng của con người vùng cao. Đồng thời là tâm sự của chính nhà văn, người con của quê hương khi xa quê nhớ quê hương đến cháy bỏng da diết. Để thực thi vai trò của người kể chuyện điều đầu tiên nhà văn phải là người thiếp lập được hình thức trần thuật hợp lí, phù hợp với ý đồ và mục đích sáng tạo của bản thân.
Qua 36 truyện ngắn của Đỗ Bích Thúy rải rác trong năm tập, đặc biệt là dựa vào sự tồn tại của người kể chuyện được báo hiệu thông qua văn bản, chúng tôi nhận thấy hình tượng người trần thuật mà Đỗ Bích Thúy thiết lập biểu hiện chủ yếu trên hai phương diện: người trần thuật hàm ẩn (giấu mặt), người trần thuật tường minh (lộ diện) hay người trần thuật đáng tin cậy và không đáng tin cậy. Từ đó, chúng tôi nhận thấy người đóng vai trò trần thuật trong những tập truyện ngắn của chị chủ yếu thuộc ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba. Tất nhiên xen kẽ trong cách kể thuộc ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba, truyện Đỗ Bích Thúy cũng có sử dụng ngôi thứ hai nhưng không nhiều. Ngôi thứ hai mà chị dùng chỉ nhằm mục đích gián cách với cách xưng hô: anh, chị, bà.
LuËn v¨n th¹c sÜ v¨n häc 11 Ng« ThÞ Yªn NghÖ thuËt trÇn thuËt trong truyÖn ng¾n §ç BÝch Thóy tưởng là ngôi thứ ba số ít nhưng thực chất nó là cái tôi khác, cái tôi được kể ra, chứ không phải là tự kể như ngôi thứ nhất.