Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về cạnh tranh và kinh nghiệm quốc tế về nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu của sản phẩm dệt may. Chương 2: Thực trạng phát triển và năng lực cạnh tranh xuất khẩu của sản phẩm dệt may Việt Nam trong thời gian qua. Chương 3: Quan điểm định hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu của sản phẩm dệt may Việt Nam trong thời gian tới. TIEU LUAN MOI download - 5 - : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CẠNH TRANH VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH XUẤT KHẨU CỦA SẢN PHẨM DỆT MAY Cạnh tranh là một hiện tƣợng vốn có của Kinh tế thị trƣờng - mô thức kinh tế mà mọi quốc gia muốn phát triển đều cần trải qua.
Nhƣ vậy, có thể khẳng định cạnh tranh là một hiện tƣợng mà mọi quốc gia, dân tộc trên con đƣờng phát triển đều phải chấp nhận, nhận thức đúng về nó. Có nhiều cách tiếp cận, nhận thức về cạnh tranh; khái niệm cạnh tranh và năng lực cạnh tranh, cấp độ cạnh tranh; các yếu tố ảnh hƣởng đến năng lực cạnh tranh cũng nhƣ hệ thống các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh. Một số vấn đề lý luận chung về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh 1.1 Một số khái niệm. Khái niệm về cạnh tranh đã đƣợc các nhà nghiên cứu kinh tế của các trƣờng phái kinh tế khác nhau nghiên cứu, xem xét và phân tích dƣới nhiều góc độ, cấp độ khác nhau.
Các nhà nghiên cứu kinh tế Tƣ sản Cổ điển cho rằng: "Cạnh tranh là một quá trình bao gồm các hành vi phản ứng;. nó mang lại cho mỗi thành viên trong thị trƣờng một phần xứng đáng so với khả năng của mình.Mác, "cạnh tranh Tƣ bản chủ nghĩa là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tƣ bản nhằm giành đƣợc những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu đƣợc lợi nhuận siêu ngạch. Trong nền kinh tế thị trƣờng, thuật ngữ cạnh tranh đƣợc dùng để chỉ cuộc đấu tranh quyết liệt, sống còn giữa các nhà sản xuất, cung cấp các chủng loại hàng hóa, dịch vụ với nhau; không phân biệt hình thức sở hữu về tƣ liệu sản xuất (nhà nƣớc, tập thể hay tƣ nhân.) với mục đích cuối cùng của cạnh tranh là giành lấy phần thuận lợi hơn cho mình. Theo từ điển Cornu (Pháp), cạnh tranh đƣợc hiểu là "Chạy đua trong kinh tế; hành vi của các doanh nghiệp độc lập với nhau và là đối thủ của nhau cung TIEU LUAN MOI download - 6 - : skknchat@gmail.com ứng hàng hóa, dịch vụ nhằm làm thỏa mãn nhu cầu giống nhau với sự may rủi của mỗi bên, thể hiện qua việc lôi kéo đƣợc hoặc để bị mất đi một lƣợng khách hàng thƣờng xuyên".
"Chạy đua trên một thị trƣờng mà cấu trúc và sự vận hành của thị trƣờng đó đáp ứng các điều kiện của quy luật cung cầu giữa một bên là các nhà cung cấp với bên kia là những ngƣời sử dụng hay tiêu dùng hàng hóa hoặc dịch vụ; các hàng hóa, dịch vụ này đƣợc tự do tiếp cận trong điều kiện các điều kiện kinh doanh không phải là hệ quả của áp lực hoặc ƣu đãi do pháp luật mang lại". Khái niệm về cạnh tranh đƣợc đề cập đến trong Đại từ điển Kinh tế Thị trƣờng (Trung Quốc) với thuật ngữ "cạnh tranh hữu hiệu", "cạnh tranh có hiệu quả", "cạnh tranh giá cả", "cạnh tranh phi giá cả" và "cạnh tranh tiềm tàng". Trong Đại từ điển Tiếng Việt, cạnh tranh đƣợc định nghĩa là sự "tranh đua giữa các cá nhân, tập thể có chức năng nhƣ nhau nhằm giành phần hơn, phần thắng về mình"; "cạnh tranh quốc tế" đƣợc hiểu là "cạnh tranh giành nguồn nguyên liệu và thị trƣờng tiêu thụ của sản phẩm trên thế giới". Cũng về khái niệm này, Từ điển Thuật ngữ Kinh tế cho rằng: "cạnh tranh là sự đấu tranh đối lập giữa các cá nhân, tập đoàn hay quốc gia.
Cạnh tranh nảy sinh khi hai bên hay nhiều bên cố gắng giành lấy thứ mà không phải ai cũng có thể giành đƣợc". Vì mục tiêu lợi nhuận, các nhà sản xuất nhất thiết phải chiến thắng trong cạnh tranh hoặc chí ít là cùng phân chia một thị trƣờng có giới hạn với các đối thủ cạnh tranh của mình. Nhƣ vậy, rõ ràng là bản chất của cạnh tranh là nhằm tới tối ƣu hóa đầu vào (hạ thấp tối đa chi phí sản xuất) và tối đa hoá đầu ra (thu lợi nhuận cao nhất có thể). Một số nhà nghiên cứu kinh tế Việt Nam quan niệm rằng: Cạnh tranh là vấn đề giành lợi thế về giá cả hàng hóa, dịch vụ và đó là con đƣờng, phƣơng thức để giành lợi nhuận cao cho các chủ thể kinh tế.
Tóm lại, còn có nhiều nhìn nhận chƣa thật sự thống nhất về khái niệm cạnh tranh, song, xét về bản chất của nó thì cạnh tranh luôn đƣợc phân tích, nhìn nhận, đánh giá trong trạng thái động và đƣợc ràng buộc trong mối quan hệ so sánh một cách tƣơng đối. Theo cách nhìn nhận đó thì mọi nỗ lực mà các bên tham gia nhằm tìm kiếm, dành giật những lợi thế về mình đều đƣợc thống nhất TIEU LUAN MOI download - 7 - : skknchat@gmail.com diễn tả trong các khái niệm khác nhau về cạnh tranh. Cạnh tranh bao hàm hai mặt: Tích cực và tiêu cực. Về mặt tích cực thì cạnh tranh đã tạo động lực để các chủ thể vƣơn tới, đạt tới trạng thái tiến bộ hơn (năng suất cao hơn, mẫu mã đẹp hơn, chất lƣợng tốt hơn.) nhằm mang lại hiệu quả tốt nhất có thể.
Tuy nhiên, nếu cạnh tranh đƣợc tiến hành bằng các động thái tiêu cực thì sẽ trở nên kìm hãm sự hình thành và phát triển cái mới, mang lại một thực trạng cực đoan hơn và kết quả lại trái ngƣợc so với tích cực. Ngày nay, khái niệm cạnh tranh đang ngày càng trở nên phổ biến và đƣợc nhìn nhận dƣới khía cạnh tích cực nhiều hơn. Mặc dù đã nói tới cạnh tranh là có ngƣời thắng, kẻ bại và mục đích kích thích sự phát triển không phải là mục tiêu của các bên tham gia cạnh tranh song bản thân nó đã thúc đẩy sự phát triển của nền sản xuất xã hội. - Năng lực cạnh tranh.
"Năng lực" đƣợc định nghĩa trong Đại Từ điển Tiếng Việt là: "Những điều kiện đủ hoặc vốn có để làm một việc gì" hay "khả năng đủ để thực hiện tốt một công việc". Cũng trong tài liệu này, "năng lực cạnh tranh" đƣợc hiểu là: "Khả năng giành thắng lợi trong cuộc cạnh tranh của những hàng hóa cùng loại trên cùng một thị trƣờng tiêu thụ". Một số nhà nghiên cứu cho rằng năng lực cạnh tranh chỉ có ý nghĩa trong quan hệ thƣơng mại và nó đƣợc mô tả qua các chỉ số đánh giá khác nhau. Trong khi đó, một số nhà nghiên cứu khác lại xem năng lực cạnh tranh bao gồm cả các điều kiện để triển khai hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh tới điểm cuối cùng của quá trình cung ứng hàng hóa, dịch vụ, là đảm bảo nâng cao mức sống cho ngƣời dân.
Ở Việt Nam, trong quan niệm của nhiều nhà nghiên cứu kinh tế, năng lực cạnh tranh hay khả năng cạnh tranh đƣợc đề cập đến dƣới nhiều góc độ; sử dụng nhiều thuật ngữ để diễn tả khác nhau. Fafchamps cho rằng, khả năng cạnh tranh chính là khả năng của một doanh nghiệp có thể sản xuất ra một sản phẩm với chi phí biến đổi trung bình thấp hơn giá của sản phẩm ấy trên thị trƣờng. Theo đó, các doanh nghiệp có đủ điều kiện và khả năng sản xuất ra sản phẩm có chất lƣợng tƣơng tự với doanh nghiệp khác nhƣng chi phí thấp hơn thì đƣợc đánh giá là có khả năng cạnh tranh cao hơn. TIEU LUAN MOI download - 8 - : skknchat@gmail.com Trong khi Randall cho rằng khả năng cạnh tranh chính là khả năng giành đƣợc và duy trì thị phần trên thị trƣờng với lợi nhuận nhất định thì Dunning lại đứng trên quan điểm vể khả năng cung ứng các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ để nhìn nhận về năng lực cạnh tranh khi ông nêu ra: Khả năng cạnh tranh là khả năng cung sản phẩm của chính doanh nghiệp trên các thị trƣờng khác nhau mà không phân biệt nơi bố trí sản xuất của doanh nghiệp đó.
Nhìn chung, hiện nay, các nhà nghiên cứu kinh tế đều cho rằng: Năng lực cạnh tranh hay khả năng cạnh tranh là trình độ của công nghiệp có thể sản xuất sản phẩm theo đúng yêu cầu của thị trƣờng và duy trì đƣợc mức độ thu nhập thực tế của mình. Tuy xuất phát từ nhiều góc độ khác nhau để nhìn nhận, đánh giá và xem xét song các quan niệm khác nhau về năng lực cạnh tranh hay khả năng cạnh tranh đều liên quan đến hai khía cạnh là khả năng chiếm lĩnh thị trƣờng và có lợi nhuận. Từ đó, chúng ta có thể lột tả bản chất khái niệm năng lực cạnh tranh. Đó là khả năng có thể nắm giữ thị phần nhất định với mức độ hiệu quả chấp nhận đƣợc.
Các cấp độ cạnh tranh và các nhân tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh. - Cạnh tranh quốc gia. Cạnh tranh ở cấp quốc gia đƣợc đánh giá chính là năng lực cạnh tranh của nó và bao gồm rất nhiều yếu tố cấu thành từ các yếu tố vĩ mô đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp hoạt động trên quốc gia đó cũng nhƣ khả năng cạnh tranh của các sản phẩm, dịch vụ có xuất xứ từ quốc gia đó trên thị trƣờng quốc tế. Theo đó, năng lực cạnh tranh quốc gia đƣợc định nghĩa là năng lực của một nền kinh tế đạt đƣợc tăng trƣởng bền vững, thu hút đƣợc đầu tƣ, đảm bảo ổn định kinh tế, xã hội và nâng cao đời sống của ngƣời dân.
Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) đã đƣa ra định nghĩa về năng lực cạnh tranh quốc gia là "khả năng đạt và duy trì đƣợc mức tăng trƣởng cao trên cơ sở các chính sách, thể chế vững bền tƣơng đối và các đặc trƣng kinh tế khác". WEF cũng đƣa ra tám nhóm yếu tố (bao gồm hơn 200 chỉ số) để xác định năng lực cạnh tranh tổng thể của một quốc gia (trọng số của mỗi nhóm chỉ số có sự thay đổi nhất định qua các thời TIEU LUAN MOI download - 9 - : skknchat@gmail.